Monthly Archives: June 2017

Trang trại chuyên sâu tại Bali, sản xuất tôm trong hệ thống Biofloc.

Hầu hết các trang trại nuôi tôm ở Bali đều sử dụng khí và hoạt động dưới sự sản xuất thâm canh

Tóm tắt: Mặc dù Bali là một điểm đến du lịch, nhưng một số trại tôm nhỏ được quản lý bởi gia đình tọa lạc tại đây. Trại tôm Ndaru Luat Setio tại Kubu được nuôi mà không mắc bệnh Litopenaeus vannamei trong hồ nhờ vào việc áp dụng công nghệ biofoc cơ bản với việc không thay nước. Sục khí nhiều và kiểm soát tốt việc duy trì oxy hòa toàn duy trì chất lượng nước trong môi trường chăn nuôi. Nông trại đã sản xuất được 45-55 tấn/ chu kỳ kể từ năm 2009 một cách ổn định và bền vững.

Đảo Bali tại Indonesia là một điểm đến du lịch nổi tiếng. Tuy nhiên, một vài cơ sở nuôi trồng thủy sản, bao gồm trang trại nuôi tôm nhỏ được đặt ở đây- chủ yếu ở bờ biển phía Bắc. Phần lớn các trại tôm có chủ sở hữu là gia đình và hoạt động theo sản xuất thâm canh, còn kiểu trải dài trên một vùng đất thì khá hạn chế. Trang trại tôm Ndaru Laut Setio tại Kubu, nằm ở bờ biển bắc của Bali không xa khu vực lặn. Được nuôi trong hồ đặc trưng không mắc bệnh Litopenaeus vannamei

Nông trại

12 hồ với kích thước khác nhau, từ 600- 2800m2 hoạt động với hai bể nước chiếm 16% tổng diện tích ao nuôi, chỉ hơn 2ha. Tất cả các hồ đều ngăn với nhau hoàn toàn bằng bê tông và hầu hết hình chữ nhật với độ sâu trung bình 1.2m. Hồ có hệ thống thoát nước trung tâm.

Cũng như các ruộng bậc thang, nông trại tôm thường được xây dựng ở một dốc ngay mép của bờ biển bắc. Nước biển từ cửa biển được bơm vào hồ nước ở mức cao nhất. Điều này cho phép kỹ thuật viên có thể phân phối nước cho các ao nuôi bằng trọng lực.

Công nghệ Biofloc

Các ao áp dụng công nghệ biofoc và không thay nước. Ngũ cốc và mật được thêm vào môi trường nước để làm tăng tỉ lệ carbon- nito (C:N), trong khi thêm việc sục khí để hỗ trợ biofloc treo trong cột nước.

Ban đầu, thức ăn dạng hạt được làm từ bột lúa mì được sử dụng từ 10-20% khối lượng thức ăn cung cấp thông thường, nhưng sau đó chỉ đường được đưa vào để tăng tỉ lệ C:N. Hàng ngày,hồ nhận được khoảng 1-2 ppm mật. Các biofoc được duy trì dưới 12mL/L. Một sản phẩm thân thiện với con người nổi tiếng đã được dùng thử trong suốt chu kỳ, nhưng ảnh hưởng của nó không rõ ràng.

Các hệ thống thông khí giúp di chuyển các biofloc thừa và bùn đến trung tâm của ao hoặc những địa điểm được chỉ định khác để loại bỏ ra ngoài khi cần thiết. Trong khía cạnh này, các vị trí của các thiết bị sục khí sẽ hỗ trợ 400kg/ mã lực năng suất vận chuyển, điều này rât quan trọng. Một khả năng vận chuyển điển hình trong hệ trống biofloc là 600kg/ mã lực

Môi trường 

Vì máy thông khí được cung cấp, và oxy hòa tan được kiểm soát tốt, chất lượng nước trong môi trường nuôi trồng được duy trì trong giới hạn bình thường. Khối lượng Biofloc được kiểm soát dưới 10ml/ l, khi được đo bằng Imhoff hình nón. Nhiệt độ dao động từ 27-33 ° C trong suốt chu kỳ, trong khi đó, độ mặn được giữ giữa 33 -38 ppt. Tuy nhiên, tại thời điểm gần thu hoạch, độ mặn có thể vượt quá 40 ppt.

Mức độ oxy hòa tand được giữ cao hơn 4ppm, với pH và các thông số khác trong vòng chấp nhận được. Lúc thu hoạch, nitrate có thể đạt đến 100ppm, và ammonia và nitrite sẽ dao động từ 8-10 ppm.

Các chu kỳ canh tác được lên kế hoạch để tránh những tháng có nhiệt độ thấp, ở Bali thường là Tháng Một, Tháng Hai, Tháng Bảy, Tháng Tám. Tháng Một và tháng Hai mát, mùa mưa không ổn định, trong khi tháng Bảy và tháng Tám, nhiệt độ nước biển có thể đoán được dưới 26 ° C. Những điều kiện này đóng góp vào khả năng bộc phát của virus.

Sản xuất

Dữ liệu sản xuất nông nghiệp từ năm 2012 được trình bày ở bảng 1. Ban đầu, chỉ có hai chu kỳ trong một năm, nhưng gần đây, chỉ tiêu thường là 2,5- 3,0

Gần đây, sản xuất nông nghiệp từ 2ha diện ích ao nuôi trong một chu kỳ sẽ thu hoạch được 45 -55 tấn hay 90 đến 110 tấn một năm. Trong chu kỳ hiện tại, nhiều nỗ lực đã được thực hiện nhằm giảm ngày nuôi với việc cho ăn thâm canh và phát triển biofloc có kiểm soát, Việc này đã có hiệu quả, tôm phát triển nhanh hơn và ngày nuôi giảm xuống còn chỉ trên 80, so với 100 ngày điển hình trong chăn nuôi nông trai (hình 1)

Hình 1: Tăng trưởng tôm

Lợi ích của Biofloc

Hoạt động từ năm 2007 như một hệ thống thâm canh bình thường với L. vannamei.Tất cả 12 ao được đưa vào hoạt động vào cuối năm 2008, khi nông trại tôm tại Indonesia chịu ảnh hưởng nặng nề bởi virus mionecrosis. Nông trại tại Bali cũng bị tấn công bởi virus, nhưng việc quản lý để điều hành 80-90 ngày nuôi chỉ bằng cách chỉ sử dụng nước thay thế được xử lý

Vào thời điểm đó, các hệ thông biofloc đã được khai mở, nhưng hệ thống kiểm soát mật độ biofloc vẫn chưa đúng. Khối lượng biofloc lên đến 15 ml/L, và mức độ hòa tan oxy giảm xuống dưới 2,5ppm. Tuy nhiên, các công nghệ biofloc đã được nhận thức đầy đủ và đưa ra thực nghiệm vào đầu năm 2009. Các trang trại đã sản xuất 45-55 tấn / chu kỳ kể từ năm 2009 một cách ổn định và bền vững, và không bộc phát virus.

Ghi chú:

Điều khiển sản xuất cần thiết cho hệ thông biofloc góp phần cải thiện an toàn sinh học. 

Trong chu kỳ này, ao B1, B2, B3, C1, C2 và C3 được kiểm soát cao với một giai đoạn nuôi ngắn. 

Những ao an toàn sinh học sử dụng những lưới ngăn chim và hàng rào để ngăn chặn thành phần mang bệnh.  

Lớp lót làm tăng an toàn sinh học và ổn định đê và kênh tiếp tế. 

Tất cả lạch nước phải được phủ lưới để lọc các động vật giáp xác, ấu trùng có thể xâm nhập vào ao nuôi. 

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/trang-trai-chuyen-sau-tai-bali-san-xuat-tom-trong-he-thong-biofloc-58e5b4d0e49519e66a8b456b.html

Bệnh đốm trắng (WSSV) trên tôm biển: giải pháp phòng chống dịch bệnh

Theo kết quả quan trắc môi trường từ tháng 6/2014 đến nay của Trung tâm Khuyến nông – Khuyến ngư, ở hầu hết các điểm thu mẫu giáp xác ngoài kênh rạch tự nhiên trên địa bàn 03 huyện Bình Đại, Ba Tri và Thạnh Phú đều phát hiện nhiễm mầm bệnh đốm trắng với tần suất ngày càng cao tại các điểm thu mẫu, đặc biệt là bệnh đốm trắng (WSSV).

Bệnh đốm trắng (WSSV) trên tôm biển: giải pháp phòng chống dịch bệnh

Tôm chân trắng (33 ngày tuổi) bị nhiễm bệnh đốm trắng (WSSV).

Để hạn chế dịch bệnh đốm trắng xảy ra trên tôm biển nuôi trong mùa mưa, người nuôi tôm cần lưu ý một số nội dung sau:

1. Đối với ao chuẩn bị thả tôm

– Chuẩn bị ao nuôi: Sên vét bùn đáy ao triệt để, tiến hành rửa và ngâm đáy ao 2-3 lần bằng vôi (CaO), liều lượng 30 kg/1.000 m2, sử dụng thêm vôi CaCO3 rải đều khắp nền đáy và bờ ao liều lượng 20-25 kg/1.000 m2. Sau đó tiếp tục phơi ao từ 5 đến 7 ngày, phơi khô đáy ao, cày xới nhằm kiểm soát chất hữu cơ và các tác nhân gây bệnh.

– Cần có ao lắng, xử lý nước riêng biệt, tiệt trùng nguồn nước đầu vào trong ao lắng hoặc ao nuôi trước khi thả tôm bằng hóa chất Chlorine liều lượng 30 ppm (30 kg/1.000 m3).

– Chọn tôm giống: Có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng; kiểm tra các tác nhân gây bệnh đốm trắng (WSSV), bệnh đầu vàng (YHV), bệnh MBV, bệnh Taura (TSV), bệnh hoại tử cơ quan tạo máu và biểu mô (IHHNV), bệnh hoại tử gan tụy cấp tính (AHPND) và các bệnh nguy hiểm khác; được kiểm dịch của Chi cục Nuôi trồng Thủy sản Bến Tre.

– Mật độ và kích cỡ giống thả nuôi phù hợp với quy định của ngành (tôm chân trắng từ 60-80 con/m2, cỡ postlarvae ≥12mm; tôm sú từ 20-25 con/m2, cỡ postlarvae ≥15 mm).

– Áp dụng các quy trình nuôi an toàn sinh học để giảm ô nhiễm môi trường, dịch bệnh.

2. Đối với các ao tôm đang nuôi

– Quản lý chặt chẽ các yếu tố môi trường nước trong ao nuôi như:

+ Duy trì mực nước ao nuôi > 1,2m.

+ pH duy trì 7,5 – 8,2 (kiểm tra 02 lần/ngày, vào lúc 6 giờ sáng và 14 giờ chiều).

+ Độ kiềm ổn định 120-160 mg/l (định kỳ 7-10 ngày kiểm tra/lần).

+ Tăng thời gian chạy quạt nước để đảm bảo oxy hòa tan >5mg/l.

+ Mật độ tảo (định kỳ 3 ngày kiểm tra/lần) cần điều chỉnh trong ngưỡng thích hợp nhất, đặc biệt là màu nước cần giữ ổn định thường xuyên, tránh hiện tượng tảo bị nở hoa.

– Bón vôi CaCO3 quanh bờ ao trước khi trời mưa; sau khi mưa nhiều có thể tháo bỏ lớp nước tầng mặt hoặc bón vôi ao nuôi để tránh sự biến động độ mặn và các yếu tố thủy lý, thủy hóa trong ao nuôi.

– Tăng cường sức đề kháng cho tôm bổ sung các vitamin, khoáng chất, men tiêu hóa, chất tăng cường hệ miễn dịch vào thức ăn cho tôm.

– Thực hiện tốt các biện pháp ngăn chặn nhằm hạn chế sự xâm nhập của các vật chủ trung gian mang mầm bệnh như: kiểm soát nguồn nước cấp, rào lưới, đuổi chim, cò…

– Quản lý chặt chẽ thức ăn trong quá trình nuôi, tránh dư thừa thức ăn; định kỳ sử dụng chế phẩm sinh học để giảm ô nhiễm môi trường đáy ao và hạn chế sự phát sinh mầm bệnh.

3. Xử lý ao tôm bị bệnh do virus đốm trắng

Hiện nay chưa có thuốc đặc trị bệnh đốm trắng, người dân không nên dùng thuốc kháng sinh để trị bệnh vì không có tác dụng đối với bệnh do virus.

Vì vậy, khi tôm nuôi có dấu hiệu bị nhiễm bệnh hoặc chết bất thường, tuyệt đối không xả nước, tôm chết ra ngoài môi trường xung quanh; phải thực hiện ngay các biện pháp cách ly và khai báo ngay cho Ban quản lý vùng nuôi, Ủy ban nhân dân xã hoặc Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện để được hướng dẫn cách ly, thu mẫu xác định nguyên nhân gây bệnh và hướng dẫn quy trình xử lý tiêu hủy mầm bệnh.

Lưu ý: Người dân trước khi thả tôm giống phải qua kiểm dịch và được cấp ”Giấy chứng nhận kiểm dịch thủy sản, sản phẩm thủy sản vận chuyển trong nước” của Chi cục Nuôi trồng Thủy sản Bến Tre và lưu giữ tại cơ sở nuôi. Đây là cơ sở làm căn cứ để được hưởng các chính sách của nhà nước như: hỗ trợ hóa chất tiêu hủy dịch bệnh; hỗ trợ con giống khôi phục sản xuất (nếu có),…

Chúc quý bà con nuôi tôm thành công.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/benh-dom-trang-wssv-tren-tom-bien-giai-phap-phong-chong-dich-benh-59116d41e4951977198b456b.html

Mô hình PGS ngày càng phát huy hiệu quả

Qua sự hỗ trợ của Chi cục BVTV Hà Nội, các chuỗi sản xuất, chế biến, kinh doanh sản phẩm rau an toàn có sự tham gia giám sát của cộng đồng tự quản (PGS) ngày càng cho thấy sự hiệu quả cũng như phù hợp với thực trạng và xu hướng sản xuất trên địa bàn thành phố hiện nay.

Mô hình PGS ngày càng phát huy hiệu quả

Mô hình PGS trên rau an toàn tại Hà Nội hướng đi của nông nghiệp hiện đại

Để kiểm soát chất lượng rau an toàn, giúp truy xuất nguồn gốc, tạo lòng tin cho người tiêu dùng, một trong những giải pháp quan trọng là kiểm soát theo chuỗi khép kín từ sản xuất đến tiêu thụ. Trên cơ sở thành công của hệ thống đảm bảo cùng tham gia của cộng đồng (PGS) trong việc kiểm soát rau hữu cơ theo nhóm tự quản, Chi cục BVTV Hà Nội tiến tới áp dụng PGS trong sản xuất tiêu thụ rau an toàn, đến nay đạt kết quả rất khả quan.

Theo ông Nguyễn Duy Hồng, Chi cục trưởng Chi cục BVTV Hà Nội, hệ thống đảm bảo cùng tham gia PGS (Participatory Guarantee system) là hệ thống đảm bảo chất lượng nội bộ. Hệ thống này chứng thực cho người sản xuất dựa trên sự tham gia tích cực của các bên liên quan gồm: Người tiêu dùng, doanh nghiệp phân phối, cơ quan quản lý nhà nước và các đối tượng quan tâm khác. Quá trình sản xuất và thu hoạch thường xuyên được giám sát, điều tra đảm bảo phát hiện, khắc phục những sai phạm nhỏ và loại bỏ ngay lập tức các nhóm sản xuất, các sản phẩm mắc sai phạm nghiêm trọng.

Năm 2017, thực hiện nhiệm vụ Sở NN-PTNT giao phó, Chi cục BVTV Hà Nội phối hợp xây dựng 20 mô hình kiểm tra cộng đồng áp dụng PGS trong sản xuất và tiêu thụ rau an toàn tại 20 xã, phường, thị trấn thuộc 14 quận, huyện với tổng diện tích 1.138,7ha.

Để hỗ trợ các mô hình, Chi cục BVTV Hà Nội tổ chức đào tạo, tập huấn, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật ngay trên đồng ruộng. Qua đó, trang bị các kiến thức, kỹ năng, quy định về an toàn thực phẩm cho người nông dân. Chi cục cũng cử cán bộ hướng dẫn sát sao việc hướng dẫn nông dân ghi chép nhật ký sử dụng thuốc BVTV, nhận diện và loại bỏ các loại thuốc BVTV không hướng dẫn trên rau.

Đặc biệt, mỗi điểm mô hình PGS tiến hành phân các nhóm, tổ sản xuất rau an toàn tự quản. Trung bình 10 – 30 hộ/nhóm, mỗi nhóm bầu ra một nhóm trưởng, từ các nhóm trưởng bầu ra 1 trưởng liên nhóm phụ trách chung. Nhìn chung, các nhóm sản xuất rau an toàn tự quản bước đầu đã phát huy tác dụng trong việc quản lý chất lượng sản phẩm, hỗ trợ tích cực cho cán bộ kỹ thuật cũng như tham mưu cho chính quyền địa phương trong việc quản lý, chỉ đạo các hoạt động của mô hình nhằm đảm bảo an toàn thực phẩm cho sản phẩm thu hoạch.

Là một trong những nhóm tiên phong triển khai mô hình PGS và ngày một thành công, bà Hoàng Thị Hậu, Trưởng liên nhóm PGS Hữu cơ Thanh Xuân, Sóc Sơn cho biết, số lượng các hộ nông dân xin tham gia Liên nhóm hữu cơ Thanh Xuân ngày một đông hơn, bởi đơn giản khi tham gia mô hình này bà con có thu nhập ngày một tốt hơn, ổn định hơn. Từ gần một năm nay, ngày 10 hàng tháng HTX Thanh Xuân đều tổ chức tổng kết và trả tiền cho các hội viên tham gia nhóm trên cơ sở diện tích tham gia, không khác gì việc bà con được nhận lương.

Kinh nghiệm thành công từ Liên nhóm hữu cơ Thanh Xuân theo chia sẻ của bà Hậu, yếu tố con người trong PGS vô cùng quan trọng. Phải có những người thực sự hiểu và tâm huyết mới gắn kết và duy trì được mô hình. Kinh nghiệm cũng cho thấy nếu các mô hình PGS cứ trông chờ vào hỗ trợ của nhà nước cũng khó phát triển bền vững mà quan trọng nhất vẫn phải gắn được được người dân để bà con họ thấy có lợi hơn, hiệu quả hơn, tốt hơn họ tự nguyên đi theo mới là giải pháp tối ưu nhất.

Chi cục trưởng Chi cục BVTV Hà Nội Nguyễn Duy Hồng nhấn mạnh, trong quá trình hỗ trợ triển khai các mô hình PGS, đơn vị đặc biệt coi trọng và tập huấn nhuần nhuyễn việc ghi chép nhật ký thuốc BVTV. Thất bại của VietGAP cho thấy nông dân hiện chưa tạo được thói quen ghi chép, tuy nhiên nếu không ghi chép sẽ khó khăn trong truy xuất nguồn gốc. Do đó, Chi cục BVTV Hà Nội rút gọn lại việc ghi chép tập trung vào ghi nhật ký sử dụng thuốc BVTV, bởi vấn đề an toàn thực phẩm trên rau an toàn hiện nay chủ yếu tập trung ở tiêu chí này.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/mo-hinh-pgs-ngay-cang-phat-huy-hieu-qua-5944936ae4951980578b456e.html