Monthly Archives: July 2017

Sử dụng men vi sinh và hệ thống ao lắng trong nuôi tôm

Một số quốc gia ban hành lệnh cấm nhập khẩu tôm có dư lượng kháng sinh. Sử dụng các loại men vi sinh thì người nuôi sẽ có một phương pháp nuôi an toàn hơn nhằm kiểm soát hoặc kiềm chế các sinh vật gây bệnh và mầm bệnh trong ao.

Sử dụng men vi sinh và hệ thống ao lắng trong nuôi tôm

Probioticslà một nhóm các loài vi khuẩn có lợi, hầu hết thuộc giống Lactobacillus giống như “vi khuẩn tốt” có trong sữa chua. Các sản phẩm men vi sinh thương phẩm có công thức dạng bột thường xuyên được dùng xử lý nước ao để giữ quần thể vi khuẩn phát sáng (Vibrio sp.) ở mức thấp trong suốt thời gian nuôi.

Các loài vi khuẩn probiotics sản sinh các chất phá hủy các tác nhân gây bệnh, đồng thời sản sinh các enzym tăng cường hiệu quả sử dụng thức ăn và hỗ trợ tiêu hóa. Các loài vi khuẩn probiotics cũng giúp giải độc các chất chuyển hóa có hại trong nước ao.

Lý tưởng là kết hợp sử dụng men vi sinh với một hệ thống ao lắng và các thiết bị sục khí bánh guồng. Tỷ lệ khuyến khích áp dụng là 1:1 ao nuôi / ao lắng. Dùng ao lắng hoạt động như một hệ thống lọc sinh học để kiểm soát nguồn nước cấp trong môi trường ao nuôi.

Nguồn nước đầu tiên được đưa vào ao lắng để trong vòng 5 – 7 ngày trước khi chuyển qua các ao nuôi.

Cách làm này giúp giảm số lượng các hạt và các chất dinh dưỡng sẵn có cho các mầm bệnh tự nhiên tồn tại trong nước biển. Mặt khác, cần thiết vận hành các thiết bị sục khí bánh guồng để hoàn toàn phân tán và gia tăng hoạt động của men vi sinh trong ao nuôi.

Trong các trường hợp mà lượng vi khuẩn phát sáng vẫn còn cao trong ao thì nên kết hợp trộn trực tiếp men vi sinhmen tiêu hóa trong chế độ ăn cho tôm.

Khuyến khích sử dụng các loại men vi sinh và hệ thống ao lắng trong các ao nuôi bán thâm canh và thâm canh khi mật độ thả là 20 – 30 PL/ mét vuông. Áp dụng công nghệ nuôi này thì cần chi phí nuôi từ 776.330 P đến 1.120.740 P / ha / vụ. Lợi tức đầu tư sẽ là 23,6 % đối với nuôi bán thâm canh và 26,8% đối với nuôi thâm canh.

Công nghệ này thích hợp cho các vùng nuôi diện tích nhỏ (ví dụ như 1 ha) vì dễ quản lý hơn và người nuôi có thể là nhà sản xuất gia công. Các nhà điều hành sở hữu thực sự vùng nuôi và người nuôi sẽ quản lý ao nuôi. Lợi nhuận thu về được phân chia giữa nhà điều hành và người nuôi.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/su-dung-men-vi-sinh-va-he-thong-ao-lang-trong-nuoi-tom-36672.html

Kiểm soát bệnh ở tôm nuôi nhờ các loài lợi khuẩn Probiotic

Thuốc kháng sinh được sử dụng với số lượng lớn trong nhiều trường hợp không hiệu quả, hoặc dẫn đến sự gia tăng độc lực của tác nhân gây bệnh và hơn nữa là nguyên nhân của mối quan tâm về sự thúc đẩy chuyển sang đề kháng kháng sinh gây bệnh ở người.

Công nghệ probiotic ( men vi sinh ) cung cấp một giải pháp cho những vấn đề này.

Thành phần các loài vi khuẩn trong bể ương giống hoặc ao nuôi thủy sản lớn có thể được thay đổi bằng cách đưa thêm các loài vi khuẩn đã chọn lọc để thay thế chỗ các loài vi khuẩn có hại thông thường.

Có thể kiểm soát được độc tính của các loài vi khuẩn Vibrio phát sáng theo cách này. Khi đưa vào các dòng vi khuẩn Bacillus được chọn lọc đặc biệt giúp giảm đi nhiều dòng Vibrio phát sáng trong ao và bể nuôi.

Một trang trại ở Negros, Philippines, vốn đã bị tàn phá bởi bệnh Vibrio phát sáng do sử dụng liều cao thuốc kháng sinh trong thức ăn, nhưng tôm đã đạt được tỉ lệ sống 80 – 100 % trong tất cả các ao xử lý bằng probiotic men vi sinh ).

Việc sử dụng vi khuẩn có lợi để thế chỗ vi khuẩn gây bệnh nhờ các quá trình cạnh tranh được ứng dụng trong ngành chăn nuôi là một biện pháp chữa trị tốt hơn điều trị kháng sinh và hiện đang được ngành nuôi trồng thủy sản áp dụng để kiểm soát các tác nhân gây bệnh.

Thuật ngữ “probiotic” đã được định nghĩa là: “probiotic ( men vi sinh ) là đơn hoặc đa hỗn hợp nuôi cấy các vi sinh vật sống sử dụng cho động vật hoặc con người, tác động có lợi cho vật chủ bằng cách cải thiện các đặc tính của hệ vi sinh vật bản địa.

Khác động vật trên cạn, động vật thủy sản nuôi bị bao quanh bởi một môi trường hỗ trợ các mầm bệnh cơ hội một cách độc lập với vật chủ, vì vậy các loại mầm bệnh có thể tăng lên nhanh xung quanh động vật nuôi.

Vibrio phát triển dính vào tảo, sau đó có thể đạt mật độ quần thể cao sau khi động vật phù du ăn phải tảo và sau đó bài tiết ra tảo bị phân giải ở thể phân cục; Vibrio là vi khuẩn đường ruột trong cá và tôm cũng như động vật phù du.

Trong các ao nuôi trồng thủy sản thường có mật độ động vật thủy sản và tảo rất cao, số lượng vi khuẩn Vibrio cũng cao hơn so với ngoài biển.

Sự khởi phát bệnh tôm do tiếp xúc với một số lượng lớn vi khuẩn Vibrio, đặc biệt là khi khả năng gây bệnh đã tăng quá mức do dùng quá liều các hợp chất kháng khuẩn cho thấy rằng cần một sự bảo vệ.

Trong hơn thập kỷ qua, hệ sinh thái vi khuẩn và công nghệ sinh học đã tiến triển đến mức có sẵn các sản phẩm thương mại và các công nghệ để có thể xử lý một khu vực rộng lớn đất và nước nhằm tăng mật độ quần thể của các loài vi khuẩn cụ thể hoặc các hoạt động sinh hóa.

Quy trình phân hủy sinh học bioremediation (hoặc tăng cường sinh học bioaugmentation) được áp dụng trong nhiều lĩnh vực, nhưng thành công rất khác nhau, tùy thuộc vào bản chất của các sản phẩm được sử dụng và các thông tin kỹ thuật sẵn có cho người sử dụng.

Vi khuẩn đưa vào ao phải được lựa chọn theo các chức năng đặc biệt đều tuân theo chuẩn xử lý sinh học với mật độ quần thể đủ cao và trong các điều kiện môi trường thích hợp để đạt được kết quả mong muốn.

Quy trình tăng cường sinh học (bioaugmentation) và việc sử dụng các loại men vi sinh là các công cụ quản lý quan trọng trong nuôi trồng thủy sản, nhưng hiệu quả của nó tùy thuộc vào sự am hiểu bản chất của khả năng cạnh tranh giữa các loài hoặc các dòng vi khuẩn cụ thể.

Hiệu quả cũng dựa trên cùng một khái niệm được áp dụng thành công trong xử lý sinh học đất và việc sử dụng các loại men vi sinh trong trong ngành chăn nuôi.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/kiem-soat-benh-o-tom-nuoi-nho-cac-loai-loi-khuan-probiotic-36679.html

Các dòng Bacillus polyfermenticus

Đặc biệt, các dòng Bacillus polyfermenticus, thường được gọi là các dòng ‘Bispan’ đã được sử dụng để điều trị rối loạn đường ruột lâu dài, đây là các dòng vi sinhsống ở dạng nội bào tử hoạt động có khả năng vào tới trong ruột.

Bacillus polyfermenticus KJS-2

Dòng Bispan – nội bào tử vi khuẩn hình que, lần đầu tiên được phân lập từ một mẫu không khí bởi Tiến sĩ Terakado vào năm 1933.

Dòng vi khuẩn này tiết ra nhiều loại enzyme ly giải các dòng vi khuẩn gây bệnh như vi khuẩn gây bệnh thương hàn (typhoid bacillus), bệnh phó thương hàn (paratyphoid bacillus), lỵ trực khuẩn (shigella) và bệnh tả (cholera).

Sự hấp thu các dòng Bispan có thể kích thích ăn ngon và tăng cường tiêu hóa ở người nhờ nguồn cung vitamin B1 và B2, cũng như tăng cường bảo vệ chống lại lây nhiễm không qua đường uống và miễn dịch qua đường uống. Các dòng Bispan cùng với các loài vi khuẩn Bacillus subtilis và B. mesentericus được mô tả trong Dược điển Nhật Bản là bacilli phân giải tinh bột.

Tuy nhiên, thuật ngữ ‘Bispan’ không xuất hiện trong thuật ngữ quốc tế như Sách hướng dẫn Hệ thống phân loại vi khuẩn Bergey (Sneath 1986).

Nhiều nghiên cứu đã cho là các dòng Bispan gần tương tự như các dòng B. subtilis về các đặc tính hình thái học và sinh hóa. Tuy nhiên, các dòng Bispan vẫn khác biệt so với các dòng B. subtilis, bởi các dòng trước đây có khả năng chuyển hóa lactose và sản sinh một lượng axit acetic và axit lactic tương ứng từ glucose và lactose lớn hơn các dòng sau này.

K.-H. Lee, K.-D. Jun1, W.-S. Kim1 and H.-D. Paik

Ban Khoa học Đời sống, Đại học Kyungnam, Masan và 1Trung tâm Nghiên cứu Phát triển, Binex, Pusan, Hàn Quốc

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/cac-dong-bacillus-polyfermenticus-36688.html

Nuôi tôm kết hợp với chế phẩm sinh học tại Ấn Độ

Lợi ích kinh tế cao từ việc nuôi tôm sú dẫn đến mật độ thả ngày càng cao và sử dụng con giống kém chất lượng đã làm cho mối nguy về dịch bệnh xảy ra liên tục.

Nuôi tôm kết hợp với chế phẩm sinh học tại Ấn Độ

Người nuôi đã phải sử dụng kháng sinh và khử trùng nước thường xuyên hơn.

Việc sử dụng kháng sinh đã mang lại nhiều ảnh hưởng bất lợi cho môi trường, an toàn thực phẩm cũng như dẫn đến việc tạo ra những rào cản thương mại cho sản phẩm tôm trên thị trường quốc tế.

Để hạn chế việc sử dụng thuốc kháng sinh và hóa chất trong nuôi tôm, chính phủ Ấn Độ đã ban hành các qui định an toàn vệ sinh thực phẩm nghiêm ngặt trong tất cả các trang trại nuôi tôm như không chấp nhận sử dụng các hóa chất cấm.

Các kỹ thuật nuôi tôm như ứng dụng GMP (Good management practices – thực hành quản lý tốt), BMP (Best management practices – thực hành quản lý tốt nhất), nuôi tôm sinh thái và nuôi tôm trong hệ thống trao đổi nước tĩnh đã được xem xét ứng dụng.

Tuy nhiên, chế phẩm sinh học đóng vai trò chính trong việc hướng đến ngành công nghiệp nuôi bền vững hơn.

Ở Ấn Độ, có hơn 100 công ty sản xuất chế phẩm sinh học cho sử dụng trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản. Tuy nhiên, người nuôi không có kiến thức đầy đủ về ngành vi sinh vật học và họ không tin tưởng vào những lợi ích của chế phẩm sinh học.

Chế phẩm sinh học (men vi sinh) trong nuôi tôm

Định nghĩa quan trọng về Chế phẩm sinh học ban đầu của Fuller (1989) là “thức ăn bổ sung vi sinh vật sống mang lại lợi ích cho vật nuôi thông qua sự cải thiện cân bằng đường ruột”.

Tuy nhiên, trong nuôi trồng thủy sản hiện nay, định nghĩa khoa học về probiotic của Merrifield và cộng sự (2010) đã được đưa ra.

Theo nhóm nghiên cứu này, chế phẩm sinh học là những tế bào vi sinh vật được bổ sung vào khẩu phần ăn hoặc vào môi trường nước nhằm mục đích cải thiện sức khỏe, tăng sức đề kháng bệnh của vật nuôi, cải thiện năng suất, gia tăng giá trị sử dụng của thức ăn, giúp vật nuôi chống stress, tăng cường sức khỏe, tăng cường chất lượng thịt và giảm dị tật”

Chế phẩm sinh học được phân chia làm 03 nhóm:

Chế phẩm sinh học hỗ trợ hệ tiêu hóa của vật nuôi, chế phẩm sinh học cho xử lý nước (điều chỉnh sinh học) và chế phẩm sinh học trong xử lý đất (xử lý cặn bả hữu cơ như phân tôm, xác tảo)

. Chế phẩm sinh học được tạo ra ở dạng bào tử hoặc ở trạng thái nghỉ ngơi của hoặc nhiều loài khác nhau trong môi trường đặc biệt để hạn chế hoạt động hoặc làm chậm sự tăng sinh của vi sinh vật.

Tất cả những chế phẩm sinh học có thể ở dạng lỏng hoặc dạng hạt được phủ bởi các thể vi sinh.

Cơ chế hoạt động

Chế phẩm sinh học chứa nhiều dòng vi sinh vật hữu ích khác nhau ở dạng bào tử (bacteria spore) hoặc ở trạng thái nghỉ (resting bodies) sản sinh enzyme ngoại bào để chia nhỏ các phân tử lớn thành những những mảnh nhỏ hơn.

Các phân tử này có thể phân hủy do các phản ứng xúc tác enzyme bên trong tế bào vật nuôi.

Rõ ràng, các enzyme thêm vào không thể làm tăng tốc quá trình phân chia vật chất hữu cơ hoặc phân hủy độc tố trừ khi có sự hiện diện của vi sinh vật.

Chế phẩm sinh học trong tôm hoặc trong môi trường ao nuôi bám chặt vào bề mặt của vật chủ, cạnh tranh khả năng bám dính và ngăn ngừa sự xâm nhập của các vi sinh vật gây bệnh tiềm tàng.

Hiểu biết của nông dân về chế phẩm sinh học (men vi sinh, men tiêu hóa):

Sự hiểu biết và định nghĩa của người nông dân về probiotic rất đơn giản: “Chế phẩm sinh học là những sản phẩm vi sinh chứa nhiều chủng hay một chủng vi sinh vật có lợi mà khi sử dụng riêng lẻ hoặc phối hợp sẽ mang đến lợi ích cho tôm và môi trường ao nuôi”. Với góc nhìn này, chế phẩm sinh học có hai dạng: dạng dùng để cho ăn và dạng dùng cho cải thiện môi trường nước ao nuôi và lợi ích của chế phẩm sinh học là:

– Cải thiện sức khỏe vật nuôi thông qua việc cạnh tranh, ngăn chặn vi sinh vật gây hại hoặc tạo ra chất ứng chế vi sinh vật gây bệnh.

– Cung cấp dinh dưỡng thiết yếu để cải thiện dinh dưỡng của tôm nuôi.

– Thúc đẩy tăng trưởng và cải thiện hệ số chuyển đổi thức ăn thông qua việc chế phẩm sinh học cung cấp enzyme hỗ trợ quá trình tiêu hóa của tôm.

– Giảm những ảnh hưởng xấu của môi trường thông qua việc chế phẩm sinh học hấp thu hoặc phân hủy trực tiếp vật chất hữu cơ, chất độc (chẳng hạn như NH3, NO2(nitrit), H2S, PO4, CH4…) trong môi trường nước và qua đó cải thiện chất lượng nước ao nuôi.

Ngoài ra, chế phẩm sinh học còn có khả năng cải thiện đáp ứng miễn dịch của tôm chống lại mầm vi sinh vật gây bệnh thông qua việc kích hoạt hệ thống miễn dịch không đặc hiệu và chống lại virus.

Tuy nhiên, người nuôi thường nghĩ rằng chế phẩm sinh học là một sản phẩm mầu nhiệm có thể mang đến cho họ kết quả nhanh chóng và tích cực ngay sau khi áp dụng.

Chế phẩm sinh học trở thành công cụ chữa bệnh hơn là phòng bệnh. Mặc khác người nuôi cũng nản lòng vì giá cả cho chế phẩm sinh học cao làm gia tăng chi phí vụ nuôi.

Mặc dù vậy chế phẩm sinh học vẫn được chấp nhận và sử dụng trong các qui tắc nuôi trồng cơ bản.

Các ứng dụng của chế phẩm sinh học trong nuôi tôm

Việc sử dụng chế phẩm sinh học trong nuôi tôm có thể chia thành 3 giai đoạn:

Giai đoạn 01 – Trước khi thả giống

Giai đoạn 02 – Trong quá trình nuôi

Giai đoạn 03 – Sau khi thu hoạch

Giai đoạn 01 – Trước khi thả giống

Ứng dụng chế phẩm sinh học trong giai đoạn này phải thực thi nghiêm túc theo các qui tắc thực hành quản lý ao nuôi tốt nhất (BMP) bao gồm các điểm chính yếu là: thiết kế và xây dựng ao nuôi phù hợp.

Các bước quan trọng nhất để tăng cường hiệu quả của chế phẩm sinh học là phơi và cày xới đáy ao đầy đủ, san bằng, đầm nén đáy ao kỹ và nước phải được lọc kỹ trước khi vào ao nuôi.

Qui trình chuẩn bị ao nuôi được trình bày trong bảng 01.

Bảng 1- Các bước chuẩn bị ao nuôi

Ngày 01

Lấy đầy nước ao nuôi (mức trung bình 1,2 m). Để lắng trong 02 ngày.

Ngày 04

Khử trùng bằng chorine với liều 10ppm.

Ngày 09

Đánh vào ao nuôi lần thứ nhất hỗn hợp sau khi đã lên men bao gồm Đường thô + Cám gạo + Nấm men.

Ngày 10

Đánh vi sinh vào ao nuôi lần 01

Ngày 15

Đánh vào ao nuôi lần thứ 2 hỗn hợp sau khi đã lên men bao gồm Đường thô + Cám gạo + Nấm men.

Ngày 16

Đánh vi sinh vào ao nuôi lần 02

Ngày 19

Thả giống PL 15 chất lượng tốt đã qua xét nghiệm

Giai đoạn 02 – Trong quá trình nuôi

Theo hướng dẫn chung của hầu hết các công ty sản xuất, liều sử dụng chế phẩm sinh học (men vi sinh) trong quá trình nuôi như sau:

– Xử lý nước

Áp dụng liều ban đầu, sau đó đánh lại định kỳ hàng tuần trong suốt quá trình nuôi. Liều thường áp dụng là 0,5 – 01 kg/ha/tuần (với chế phẩm sinh học dạng bột) và 05 – 10 lít/ha/tuần (đối với chế phẩm sinh học dạng lỏng).

– Trộn chế phẩm sinh học (men tiêu hóa) vào thức ăn

Khuyến cáo chung thường thấy là trộn chế phẩm sinh học cho ăn trong suốt vụ nuôi cho đến khi thu hoạch, mỗi ngày một lần. Liều dùng là 5 – 10 gram/kg thức ăn và áo ngoài bằng chất kết dính.

Ứng dụng chế phẩm sinh học trong suốt vụ nuôi cần được đáp ứng bằng cách quản lý chất lượng nước ao nuôi thích hợp, hệ thống quạ nước đầy đủ, chất lượng thức ăn tốt, lịch cho ăn đúng, kiểm tra vó chính xác và có hệ thống an toàn sinh học hoàn chỉnh nhằm gia tăng hiệu quả của chế phẩm sinh học.

Các chỉ tiêu môi trường nước tối ưu giúp gia tăng hiệu quả sử dụng chế phẩm sinh học (men vi sinh) như sau:

pH 7.5 – 8.5
Độ trong 35 – 45 cm
Độ kiềm Lớn hơn 100 ppm Bicarbonate
Độ mặn 15 – 25 phần ngàn
Nhiệt độ 28 – 32 độ C
Độ sâu ao nuôi Trung bình 1,8 m
Tỷ lệ Ca:Mg 1:3, đặc biệt rất quan trọng đối với tôm thẻ chân trắng

Giai đoạn 03 – Sau khi thu hoạch

Sử dụng chế phẩm sinh học cho ao nuôi sau khi thu hoạch là vấn đề tối quan trọng mà người nuôi thường bỏ qua.

Giải pháp này nhằm giúp loại bỏ hoàn toàn lượng vật chất hữu cơ tích tụ vượt quá giới hạn ao nuôi trong suốt quá trình nuôi. Việc ứng dụng vi sinh sau khi thu hoạch tại trang trại của MAPL của tôi được thực hiện theo các bước như sau:

Bước 1 – Xịt rửa nền đáy ao nuôi.

Bước 2 – Bón vôi.

Bước 3 – Cấp nước vào ao nuôi ở mức 20 – 30 cm

Bước 4 – Sử dụng chế phẩm sinh học.

Quan sát và kết quả

Bảng bên dưới ghi nhận những quan sát sau nhiều năm nuôi tôm có ứng dụng chế phẩm sinh học tại các trang trại nuôi tại Ấn Độ:

Ứng dụng Chế phẩm sinh học (men vi sinh) cho môi trường nước

Ngày tuổi Quan sát Đánh giá
01 – 50 – Chất lượng nước tốt.
– Màu nước ổn định
– Độ trong ổn định
Thay đổi có ý nghĩa và quan sát được đối với điều kiện chất lượng nước.
51 – 100 Màu nước ổn định, độ trong giảm nhẹ Các chỉ tiêu môi trường nước ổn định nhưng nhưng bắt đầu có sự tích lũy ammonia từ ngày thứ 80 trở đi
101 –thu hoạch Tảo phát triển dày và có tảo tàn đột ngột
Trộn probiotic (men tiêu hóa) cho tôm ăn
01 – 50 Tăng trưởng ban đầu tốt và lột xác tốt Tỷ lệ sống > 90%
51 – 100 Màu sắc tôm đẹp và đều cỡ Tăng trưởng hàng ngày tốt hơn, sức khỏe tôm tốt, đường ruột rất tốt.
101 –thu hoạch Tôm tăng trưởng tốt, có ít hơn 5% tôm tăng trưởng kém và màu sắc không đẹp Có thể do chất lượng nước giai đoạn cuối không tốt là nguyên nhân gây stress.

Các chủng vi sinh vật nitrat hóa trong ao

Vi khuẩn nitrat hóa là những vi khuẩn yếu, chúng nhạy cảm với môi trường acid mặc dù chúng sinh ra acid trong quá trình oxy hóa NH3 và NO2.

Vì thế nếu trong ao có quá nhiều nitơ, những vi khuẩn này sẽ tự giết chúng bằng quá trình biến dưỡng dị hóa (metabolism) nitơ thành nitrite trừ khi pH ít biến động (môi trường có tính đệm).

Vi khuẩn nitrat là vi khuẩn tự dưỡng, do đó chúng luôn cần có oxy trong quá trình phân hủy NH3.

Hoạt động của Nitrobacter bị hạn chế bởi sự hiện diện của một lượng nhỏ khí NH3, trong khi Nitrosomonas không bị hạn chế bởi NH3. Cả Nitrobacter và Nitrosomonas đều hoạt động trong ao nuôi trong khoảng pH từ 6.8 – 8.5, khoảng pH tối ưu cho hoạt động của chúng là từ 8.2 – 8.3.

Các khuyến cáo

Tại các trang trại nuôi tôm tại Ấn Độ, kết qua thực nghiệm và kinh nghiệm cho thấy rằng, việc sử dụng chế phẩm sinh học (men vi sinh) cho môi trường nước sẽ cho kết quả tốt nhất nếu như tần suất áp dụng là 2 – 3 lần/tuần thay vì 07 ngày một lần hoặc 02 tuần một lần.

Lượng chế phẩm sinh học cần dùng thì tỷ lệ thuận với lượng thức ăn hơn là mật độ thả nuôi.

Đối với chế phẩm sinh học dùng cho ăn, thay vì chỉ trộn cho ăn 01 – 02 bữa/ngày, tôi khuyến cáo đặc biệt là nên trộn chế phẩm sinh học (men tiêu hóa) cho ăn tất cả các bữa. Điều này có nghĩa là thay vì trộn 5 – 7 gram/kg thức ăn chỉ cho 01 – 02 bữa thì nên trộn 2 – 3 gram/kg thức ăn cho tất cả các bữa.

Không nên dùng chế phẩm sinh học cho mục đích chữa trị bệnh.

Người nuôi nên sử dụng vi sinh cho ao nuôi của mình với mục đích bảo đảm cho sự ổn định và lợi ích dài lâu của trang trại.

Chế phẩm sinh học nên được coi là phần không thể thiếu trong các qui tắc nuôi tôm sơ đẳng nhất và là thành phần chính trong một trại nuôi tôm đạt tiêu chuẩn.

Hơn nữa, nhà sản xuất và kinh doanh sản phẩm probitics cần phải nhận thức rõ việc ứng dụng, liều dùng của chế phẩm sinh học trong nuôi trồng, hướng dẫn rõ ràng và dễ hiểu cho người nuôi.

Kết luận

Probotics mang lại lợi ích có ý nghĩa cho các trang trại nuôi tôm. Hiệu quả của probiptics trộn cho ăn thì thấy rõ hơn là ứng dụng cho môi trường nước.

Tuy nhiên, chế phẩm sinh học chỉ có kết quả tốt và như kỳ vọng trong trường hợp ao nuôi được quản lý thật tốt.

Chế phẩm sinh học là công cụ sinh học hiệu quả gần gũi với tự nhiên đảm bảo cho nuôi trồng bền vững và đáp ứng hoàn hảo nhu cầu thực phẩm, lợi nhuận cho tất cả người nuôi.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/nuoi-tom-ket-hop-voi-che-pham-sinh-hoc-tai-an-do-36694.html

Nuôi tôm theo công nghệ sinh học

Xu thế phát triển tất yếu

Nuôi tôm theo CNSH hiện nay được coi là một giải pháp hỗ trợ mang tính tất yếu của ngành nuôi tôm công nghiệp tại nhiều nước trên thế giới.

Nuôi tôm theo công nghệ sinh học

Sự xuống cấp của môi trường, dịch bệnh phát sinh, việc sử dụng hóa chất, thuốc kháng sinh trong phòng trị bệnh trong tôm nuôi đã ngày càng tạo áp lực phải thay đổi những cách thức tiếp cận mới trong nuôi tôm để ngành tôm có thể phát triển bền vững và quan trọng hơn là tôm và những sản phẩm từ tôm được chấp nhận trên thế giới, ngay cả những thị trường khó tính và khắt khe nhất.

CNSH ứng dụng rất nhiều trong ngành tôm từ lựa chọn tôm bố mẹ, sản xuất giống, chọn giống, phát hiện và điều trị bệnh, nuôi thương phẩm.

Trong đó, CNSH áp dụng trong nuôi tôm thương phẩm chủ yếu để đạt được những mục đích chính như : xử lý chất thải của tôm trong ao, tăng hệ số sử dụng thức ăn, ngăn ngừa sự bùng phát của dịch bệnh, hạn chế hoặc không dùng kháng sinh…

Nhiều quốc gia như Thái Lan đang phát triển công nghệ nuôi tôm theo CNSH, sau khi các lô hàng của họ bị thị trường EU trả về do phát hiện Chloramphenicol, một loại kháng sinh trong danh mục cấm sử dụng.

Hiện nay, 10% trong tổng số 20.000 trang trại nuôi tôm của Thái Lan đang nuôi tôm theo CNSH và số lượng này còn tăng trong những năm tiếp theo.

Indonesia đã áp dụng CNSH trong nuôi tôm thẻ chân trắng cho thấy chi phí sản xuất giảm khoảng 15-20%, năng suất và kích cỡ tôm đều được cải thiện, đặc biệt nguy cơ lây nhiễm dịch bệnh thấp do không phải thay nước trong quá trình nuôi.

Những công nghệ của tương lai

CNSH ( men vi sinh ) trong nuôi tôm thương phẩm hiện nay chủ yếu sử dụng những vi khuẩn có lợi trong việc phân hủy chất thải hữu cơ độc hại trong ao và kích thích quá trình sử dụng và tiêu hóa thức ăn của tôm.

Công nghệ đó được biết qua những tên chủ yếu là Probiotic và Biofloc.

Những mô hình nuôi tôm tiên tiến trên thế giới hiện nay như Raceway, tuần hoàn… chỉ có thể thực hiện được khi có nền tảng vững chắc về công nghệ Probiotic hoặc Biofloc, hoặc sự kết hợp hỗ trợ lẫn nhau của cả hai.

Probiotic ( men vi sinh, men tiêu hóa ) được hiểu là những vi khuẩn sống có lợi được bổ sung vào môi trường ao nuôi hoặc trực tiếp vào cơ thể tôm (qua con đường thức ăn).

Để các vi khuẩn hữu ích có điều kiện phát triển mạnh mẽ hơn, cải thiện tiêu hóa tốt hơn cho tôm thì cần phải sử dụng nguồn thức ăn “đặc biệt” cho các vi khuẩn có lợi được gọi là Prebiotics.

Các vi khuẩn có lợi được sử dụng phổ biến là các khuẩn hình que và khuẩn sữa được chế ở dạng lỏng hoặc dạng viên.

Việc sử dụng Probiotic đang dần phổ biến ở nhiều quốc gia bởi những lợi ích của nó mang lại và hy vọng có thể thay thế việc sử dụng thuốc kháng sinh và hóa chất trong nuôi tôm, có thể gây nguy hiểm cho sức khỏe con người.

Nếu công nghệ sinh học Probiotic tập trung vào sự hiệu quả của vi khuẩn với hệ tiêu hóa của tôm thì một công nghệ khác tập trung vào hiệu quả phân hủy nitơ (thức ăn dư thừa, chất thải của tôm) được gọi là Biofloc.

Công nghệ này hướng vào sử dụng vi khuẩn tự dưỡng để chúng có thể chuyển các chất thải hữu cơ (cơ chất) trực tiếp thành sinh khối vi khuẩn (thường rất giàu protein) trong thời gian cực ngắn mà không cần phải sử dụng ánh sáng mặt trời.

Khi được giữ lơ lửng liên tục trong nước và đạt đến một mật độ nhất định, các vi khuẩn sẽ kết dính lại với nhau thành những hạt nhỏ gọi là floc.

Mỗi floc có khoảng 2-20% là tế bào sống và 60-70% là chất hữu cơ, mỗi hạt floc ngoài vi khuẩn dị dưỡng còn có nấm, tảo, động vật phù du… là nguồn thức ăn tự nhiên có giá trị dinh dưỡng cao cho tôm.

Nhờ có sự phát triển CNSH nên nhiều mô hình nuôi tôm mới được phát triển và ứng dụng mang lại hiệu quả cao như công nghệ nuôi tôm siêu thâm canh trong đường máng nước xếp chồng lên nhau ở Mỹ, có thể sản xuất ra tôm có cỡ lớn tới 1,1 ounce/con và sản lượng 25kg/m3 nước…

Có thể nói công nghệ sinh học sẽ là chiếc chìa khóa vàng cho ngành tôm của thế giới trong tương lai.

TẠI VIỆT NAM, NĂM 2010, NHÓM NGHIÊN CỨU CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC TẾ (ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH) ĐÃ HOÀN THÀNH NGHIÊN CỨU VỀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ BIOFLOC, VỚI ƯU THẾ GIẢM THIỂU NGUY CƠ LÂY NHIỄM DỊCH BỆNH, TĂNG NĂNG SUẤT VÀ ĐẶC BIỆT LÀ TIẾT KIỆM CHI PHÍ THỨC ĂN CHO NGƯỜI NUÔI TÔM.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/nuoi-tom-theo-cong-nghe-sinh-hoc-36701.html

Chế phẩm sinh học, tác nhân ức chế hoạt động của vi rút trong nuôi tôm

Tuy nhiên, trong vài thập kỷ qua, dịch bệnh xảy ra trên tôm ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các nước châu Á đã gây ra tổn thất nặng nền về kinh tế và hạn chế sự phát triển của nghề nuôi tôm.

Chế phẩm sinh học, tác nhân ức chế hoạt động của vi rút trong nuôi tôm

Kháng sinh đã được sử dụng trong điều trị bệnh cho tôm, song việc lạm dụng thuốc kháng sinh đã gây ra những ảnh hưởng tiêu cực.

Hiện nay, chế phẩm sinh học (men tiêu hóa, men vi sinh) được lựa chọn như là giải pháp thay thế tối ưu cho việc dùng thuốc kháng sinh. Chế phẩm sinh học giúp tăng cường hệ miễn dịch tự nhiên, do vậy tăng sức đề kháng ở tôm.

Ngoài việc là các vi khuẩn có lợi, chế phẩm sinh học ức chế các hoạt động của vi rút. Do vậy, việc ứng dụng chế phẩm sinh học (men tiêu hóamen vi sinh) trong phòng và trị bệnh trên tôm là phương pháp mới và có hiệu quả.

Chế phẩm sinh học (men tiêu hóa) trong nuôi tôm

Theo truyền thống, chế phẩm sinh học được định nghĩa là “các vi sinh vật sống mà khi được bổ sung vào thức ăn sẽ giúp lấy lại sự cân bằng trong hệ tiêu hóa của vật chủ.”

Trong nuôi trồng thủy sản, việc sử dụng chế phẩm sinh học cần cân nhắc một vài yếu tố vì hệ vi sinh vật trong bộ máy của vật chủ không tồn tại độc lập.

Nó chịu ảnh hưởng của môi trường và vật chủ.

Do vậy, thuật ngữ ‘chế phẩm sinh học’ trong nuôi trồng thủy sản được định nghĩa là ‘một vi sinh vật tác động có lợi lên vật chủ như thay đổi cộng đồng vi sinh vật xung quanh vật chủ, đảm bảo cải thiện việc tiêu hóa thức ăn và tăng cường giá trị dinh dưỡng, tăng khả năng kháng bệnh, và cải thiện môi trường xung quanh vật chủ.”

Khác với tôm và cá nước mặn, quần thể vi sinh vật của các loài nước ngọt chủ yếu là các loài vi sinh vật họ AeromonasPlesiomonas, các vi khuẩn kị khí như BacteroidesFusobacterium và Eubacterium, axit lắc tích sản xuất ra các vi khuẩn ở trong ruột của tôm, chủ yếu là họ Carnobacterium.

Tuy nhiên, trong nuôi trồng thủy sản, vi khuẩn Vibrio spp., Bacillus spp., axit lắc tích và vi tảo thường được tận dụng như là chế phẩm sinh học giúp tăng trưởng và nâng cao tỷ lệ sống của loài thủy sản nuôi, đồng thời giảm mầm bệnh.

Các dòng vi sinh vật này được công nhận là có hiệu quả hơn so với việc sử dụng thuốc kháng sinh và các hóa chấ

t. Gần đây, các vi khuẩn có lợi đã được chiết xuất từ nước biển, chất cặn, và bộ máy của các loài thủy sản nuôi có khả năng sản xuất ra các chất ức chế mầm bệnh.

Ứng dụng chế phẩm sinh học (men vi sinhmen tiêu hóa) trong nuôi tôm

Hoạt động của chế phẩm sinh học được điều chỉnh bởi một loạt các ảnh hưởng phụ thuộc vào bản thân dòng chế phẩm sinh học, liều lượng sử dụng, thời gian sử dụng, liều lượng sử dụng.

Một vài dòng chế phẩm sinh học đã chứng minh có hiệu quả bằng cách sản sinh ra thuốc kháng sinh như bacteriocin có thể ức chế các loại vi khuẩn hay vi rút khác.

Một số dòng chế phẩm sinh học khác ức chế việc di chuyển của vi khuẩn vào thành ruột, tăng cường chức năng bảo vệ bằng chất nhầy bằng cách tăng việc sản xuất các phân tử miễn dịch một cách tự nhiên, hay điều chỉnh phản ứng miễn dịch.

Một vài nghiên cứu đã chứng minh hiệu quả của các dòng chế phẩm sinh học ứng dụng trong nuôi tôm.

Chẳng hạn, chế phẩm sinh học dòng Bacillus S1, được chiết xuất từ ruột của tôm giống bố mẹ ở vịnh Thái Lan, đã chứng minh có hiệu quả.

Thử nghiệm được tiến hành đối với tôm PL30.

Một nhóm được nuôi bằng thức ăn có bổ sung chế phẩm sinh học (men tiêu hóa) và nhóm còn lại được nuôi bằng thức ăn thông thường. Sau 100 ngày có sự khác biệt lớn về mức độ tăng trưởng, tỷ lệ sống và hình dáng giữa hai nhóm.

Sau khi thử thách tôm với mầm bệnh, vi khuẩn Vibrio harveyi trong mười ngày, toàn bộ nhóm được nuôi thức ăn có bổ sung chế phẩm sinh học có tỷ lệ sống 100%, trong khi nhóm còn lại có tỷ lệ sống là 26%.

Việc lựa chọn các dòng chế phẩm sinh học nên được xem xét cẩn thật. Mức độ an toàn của việc sử dụng chế phẩm sinh học có thể được khẳng định qua kinh nghiệm. Các dòng chế phẩm sinh học không chỉ đóng vai trò là thức ăn mà còn đóng vai trò kiểm soát sinh học đối với bệnh tôm và là các hoạt chất tạo ra dinh dưỡng.

Do vậy, kiểm soát sinh học trong nuôi trồng thủy sản nảy sinh và các nghiên cứu liên tục phát triển. Nhìn chúng, vi khuẩn tồn tại dưới hai dạng chính: vi khuẩn có lợi và vi khuẩn mang mầm bệnh.

Các vi khuẩn có lợi đóng vai trò quan trọng trong việc tái sử dụng các chất dinh dưỡng và phân hủy các chất hữu cơ, nhờ đó, môi trường nuôi được trong sạch. Các vi khuẩn mang mầm bệnh là tác nhân làm giảm chất lượng nước và gây bệnh.

Việc sử dụng dòng chế phẩm Bacillus sp mang lại các hiệu quả như: sản xuất chất kháng sinh, bacteriocin, lysozyme, proteases và thay đổi nồng độ pH bằng cách sản sinh ra các axit hữu cơ. Ngoài ra, chế phẩm sinh học cũng tác động đến hệ miễn dịch của cá, tôm và các loài thủy sản khác.

Streptomyces đã được sử dụng như là chế phẩm sinh học (men vi sinh) trong nuôi thí nghiệm tôm sú. Các chỉ số về chất lượng nước tốt hơn nhiều so với nuôi trong bể chứa và chỉ số tăng trưởng được cải thiện rõ rệt.

Một vài sản phẩm chế phẩm sinh học khác như Super-biotic, Super Ps, Zymetin, và Mutagen đã được chứng minh có vai tròng quan trọng trong việc sản xuất tôm giống do các dòng chế phẩm sinh học này giúp cải thiện chất lượng nước trong suốt quá trình nuôi.

Tương tự, dòng chế phẩm sinh học Bacillus subtilis E20, được chiết xuất từ thức ăn của người, đã được áp dụng trong sản xuất giống tôm thẻ chân trắng Litopenaeus vannamei, giúp giảm đáng kể tỷ lệ chết.

Chế phẩm sinh học trong việc kích hoạt hệ thống miễn dịch của tôm

Tôm là loài thủy sản có hệ thống miễn dịch kém phát triển và chế phẩm sinh học đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện hệ thống miễn dịch ở tôm.

Khi được bổ sung vào thức ăn với liều lượng 1010 cfu/kg trong vào 168 giờ, chế phẩm sinh học dòng Lactobacillus plantarum đã giúp tăng cường hệ thống miễn dịch và tác động đến gen của tôm chân trắng (Litopenaeus vannamei), tác động đến cả hệ miễn ở tế bào và ở dịch trong tôm và giúp tăng cường hoạt động của phenoloxidase (PO), prophenoloxidase (ProPO).

Dòng chế phẩm Pediococcus acidilactici cũng được chứng minh có hiệu quả trong việc chống ô xi hóa và thừa ô xi trong tế bào ở tôm chân trắng khi được thử nghiệm với vi khuẩn Vibrio nigripulchritudo.

Một vài dòng vi khuẩn Vibrio spp cũng được coi là chế phẩm sinh học tiềm năng trong nuôi tôm chân trắng.

Một số dòng được thử nghiệm như V. alginolyticus (NCIMB 1339) và V. gazogenes đã chứng minh có hiệu quả trong việc điều trị bệnh do vi khuẩn Vibrio gây ra.

Khi tôm non được cho ăn thức ăn có bổ sung ki-tin và V. gazogenes, thì số lượng khuẩn Vibrio giảm đáng kể trong ruột tôm.

Như vậy, Vibrio và hỗn hợp ki-tin đã làm thay đổi đáng kể số lượng hồng cầu, phản ảnh hệ miễn dịch của tôm được tăng cường.

Chế phẩm sinh học trong điều trị bệnh trên tôm

Chế phẩm sinh học có khả năng tăng cường hệ miễn dịch trong tôm và cá. Đối với việc phòng bệnh, việc tăng cường khả năng kháng bệnh và phát triển khả năng miễn dịch là lựa chọn tốt nhất trong việc phòng ngừa và điều trị bệnh.

Hệ miễn dịch trên tôm

Cá và tôm rất khác nhau về khả năng miễn dịch.

Cơ chế bảo vệ của tôm yếu và không có khả năng sản xuất ra globulin miễn dịch.

Loài tôm hoàn toàn dựa vào hệ miễn dịch bẩm sinh, bao gồm dịch và tế bào hoạt động phối hợp với nhau để phát hiện và loại trừ các chất hữu cơ bên ngoài nguy hiểm cho vật chủ.

Phản ứng miễn dịch ức chế vi rút ở tôm

Phản ứng miễn dịch ở tôm được nhận biết qua thụ thể nhận dạng mầm bệnh (PRRs).

Khi một vi rút vào trong cơ thể tôm, các tế bào bị nhiễm vi rút chứa các thành phần vi rút như gen DNA hay RNA và các thành phần này được cảm nhận bởi PRRs.

PRRs gây ra các phản ứng chống vi rút thích hợp và hiệu quả như sản sinh ra các xytokin khác nhau kích thích các phản ứng miễn dịch phù hợp.

Các phản ứng miễn dịch này bao gồm nhiều protein và gen chống vi rút, các chất kích thích miễn dịch hỗ trợ các phản ứng miễn dịch chống vi rút.

Hoạt động ức chế vi rút của chế phẩm sinh học

Hoạt động ức chế vi rút của chế phẩm sinh học được nghiên cứu bằng phương pháp plaque. Theo phương pháp này, chế phẩm sinh học và vi rút được trộn lẫn với số lượng bằng nhau, sau đó được cấy vào tế bào và hoạt động chống vi rút được theo dõi qua tỷ lệ giảm.

Một mô hình nuôi tế bào eukaryotic được đề xuất để nghiên cứu hoạt động ức chế vi rút của chế phẩm sinh học.

Phương pháp này dựa trên cơ chế hoạt động của chế phẩm sinh học. Chế phẩm sinh học sẽ loài trừ các mầm bệnh bằng cách cạnh tranh vị trí bám và kích thích cơ chế miễn dịch của vật chủ. Các nghiên cứu chống vi rút trong mô hình nuôi tế bào bao gồm:

Thử nghiệm các lớp đơn bào với vi khuẩn:

Trước tiên, các lớp đơn bào được ủ với chế phẩm sinh học và các vi khuẩn tự do bị đẩy ra. Sau đó, các lớp đơn bào này được thử nghiệm trực tiếp với vi rút và được ủ. Tế bào nào sống sót được coi là có khả năng ức chế vi rút.

Hiệu quả kháng vi rút của bề mặt vi khuẩn: Sau khi ủ, chế phẩm sinh học được tập hợp lại và bổ sung vào các lớp đơn bào và được thử nghiệm với vi rút. CPE được xác định sau khi ủ để xác định hoạt động ức chế vi rút.

Để áp dụng phương pháp này, phương pháp nuôi là rất quan trọng, đồng thời các yếu tố sinh, lý hóa của dòng chế phẩm sinh học (men tiêu hóa, men vi sinh) và loài vi rút được dùng để thử nghiệm cũng cần được xem xét cẩn thận.

Nhìn chung, vi rút trong phòng thí nghiệm được thử nghiệm với các lớp đơn bào phù hợp, và mức độ tăng trưởng của vi rút được xác nhận qua các nghiên cứu CPE.

Chẳng hạn, vi rút Taura được nuôi trong huyết bào của tôm chân trắng.

Mức tăng trưởng của vi rút được khẳng định qua quá trình nghiên cứu CPE trong huyết bào của tôm trong thời gian 6 giờ, 12 giờ và 48 giờ.

Theo cách tương tự, chế phẩm sinh học cũng có thể được bổ sung vào các lớp đơn bào này và CPE có thể được nghiên cứu cho hoạt động chống vi rút của chế phẩm sinh học.

Kết luận và triển vọng

Vấn đề dịch bệnh và môi trường trong nuôi tôm đã gây ra mối lo về sự phát triển bền vững của nghề nuôi tôm.

Các giống tôm sạch bệnh được chứng nhận và ao nuôi đủ điều kiện được coi là hai bước quan trọng nhất trong việc ngăn ngừa dịch bệnh.

Một vài biện pháp đã được áp dụng trong quản lý sức khỏe tôm để ngăn ngừa dịch bệnh bao gồm lựa chọn tôm giống, giống bố mẹ sạch bệnh, hệ thống nuôi khép kín, hệ thống tuần hoàn, áp dụng chế phẩm sinh học và một số hình thức nuôi tôm an toàn sinh học.

Thực tế đã cho thấy, việc sử dụng các sản phẩm chế phẩm sinh học và vitamin rất hiệu quả trong việc quản lý sức khỏe tôm và giảm bệnh dịch bằng cách củng cố cơ chế bảo vệ tự nhiên của đàn giống.

Dịch bệnh trong nuôi tôm là một vấn đề nghiêm trọng do việc lạm dụng và sử dụng sai thuốc kháng sinh đối trong việc phòng chống các bệnh do vi khuẩn gây ra như Vibrio.

Việc áp dụng chế phẩm sinh học kháng vi rút trong nuôi tôm là một giải pháp mới và an toàn. Tuy nhiên, chế phẩm sinh học đã được chứng minh có hiệu quả từ lúc bắt đầu nuôi hơn là sau khi có dịch bệnh.

Do vậy, cách tốt nhất là bổ sung chế phẩm sinh học (men tiêu hóa) vào thức ăn hàng ngày của tôm để phòng ngừa việc nhiễm các loại vi khuẩn khác nhau và giúp tăng cường sức khỏe loài nuôi, nhờ vậy giúp tăng sản lượng nuôi.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/che-pham-sinh-hoc-tac-nhan-uc-che-hoat-dong-cua-vi-rut-trong-nuoi-tom-36708.html

Biện pháp phòng chống nóng cho tôm nuôi

Chênh lệch nhiệt độ ngày đêm cao, bức xạ mặt trời tăng cao vào thời điểm từ 10 giờ đến 14 giờ trong ngày.

Biện pháp phòng chống nóng cho tôm nuôi

Tại Hà Tĩnh thời tiết nắng nóng ở Hà Tĩnh bắt đầu từ tháng 5 năm 2014, nhiệt độ cao từ 35 -380C liên tục đã ảnh hưởng lớn đến động vật thủy sản nuôi.

Thủy sản là động vật thuộc nhóm máu lạnh nên điều kiện nhiệt độ môi trường nước ảnh hưởng rất nhiều đến đời sống của chúng.

Thân nhiệt của cá, tôm thay đổi theo nhiệt độ nước, thường chỉ chênh lệch với nhiệt độ nước khoảng 0,10 0C, lúc môi trường nước giảm hay tăng đột ngột có thể kích thích dây thần kinh da làm mất khả năng điều tiết hoạt động của các cơ quan, phát sinh ra bệnh có thể gây chết hàng loạt.

Để hạn chế thiệt hại về kinh tế do nắng nóng gây ra. Chúng tôi hướng dẫn một số biện pháp chống nóng cho tôm nuôi vào mùa hè.

Trong thời gian tới thời tiết nắng nóng kéo dài kèm theo những cơn mưa trái mùa sẽ làm sự biến đổi các yếu tố môi trường trong ao nuôi thay đổi đột ngột, tăng nguy cơ phát sinh bệnh cho thủy sản tại các vùng nuôi trong tỉnh.

Bệnh vi khuẩn trên tôm nuôi phát triển mạnh, đặc biệt là bệnh Hoại tử gan tụy cấp tính (AHPND).

Nhằm hạn chế rủi ro thiệt hại trên tôm nuôi trong mùa nắng nóng, chúng tôi có một số khuyến cáo như sau:

1. Công tác chuẩn bị ao hồ nuôi phải được thực hiện theo đúng quy trình: tẩy dọn, diệt tạp, phơi đáy, khử trùng nền đáy.

2. Để hạn chế những bệnh virus nguy hiểm trên tôm (đốm trắng, đầu vàng, taura, hoại tử cơ và cơ quan tạo máu, đục cơ), người nuôi cần thực hiện xét nghiệm giống và kiểm dịch trước khi thả.

3. Cần duy trì mực nước trong ao nuôi  ≥ 1,4m. Tăng cường quạt nước trong những ngày nắng gắt hoặc trong khi mưa lớn giúp xáo trộn nước, tránh hiện tượng phân tầng trong ao nuôi.

4. Có biện pháp chống xói lở bờ ao và ngăn nước mưa kéo theo các chất thải hữu cơ xuống ao. Rải vôi quanh bờ ao trước khi trời mưa để tránh hiện tượng giảm pH đột ngột trong ao nuôi.

5. Mật độ nuôi vừa phải, không nên nuôi dày để dễ chăm sóc và quản lý ao nuôi. Đối với tôm sú nuôi thâm canh, bán thâm canh mật độ thả từ 20 – 25 con/m2, đối với tôm chân trắng nên thả với mật độ từ 60 – 100 con/m2.

6. Định kỳ theo dõi các chỉ tiêu môi trường nước trong ao nuôi (nhiệt độ, độ mặn, pH, độ ôxy hòa tan, khí độc); kiểm soát chất thải hữu cơ trong ao (Xác định chính xác khẩu phần thức ăn trong ngày, dùng chế phẩm sinh học (men vi sinh) để phân hủy hàm lượng chất hữu cơ, ổn định tảo và màu nước);

Tăng cường sức đề kháng cho tôm trong giai đoạn thời tiết bất lợi bằng cách bổ sung các chất khoáng, vi sinh đường ruột (men tiêu hóa), beta glucan, vitamin…

7. Người nuôi nên định kỳ lấy mẫu kiểm tra xác định mức độ cảm nhiễm vi khuẩn Vibrio sp. trên tôm, nước nuôi và bùn đáy ao để có biện pháp xử lý làm giảm thiểu bệnh do vi khuẩn và AHPND trong mùa nóng.

8. Người nuôi cần sử dụng thức ăn đảm bảo chất lượng và các loại thuốc, hóa chất, chế phẩm sinh học có trong danh mục được phép lưu hành trong nuôi trồng thủy sản để xử lý môi trường, phòng, chữa bệnh, quản lý sức khỏe tôm nuôi.

9. Trong quá trình nuôi khi phát hiện tôm có dấu hiệu không bình thường, nghi ngờ nhiễm bệnh, hoặc có hiện tượng chết bất thường trong ao nuôi phải báo ngay cho các hộ xung quanh và cơ quan quản lý nuôi trồng thủy sản gần nhất để được hướng dẫn và xử lý kịp thời, tránh hiện tượng lây lan bệnh trong vùng nuôi.

Tuyệt đối không xả nước chưa qua xử lý hoặc tôm chết ra ngoài môi trường, chấp hành nghiêm túc các biện pháp phòng chống dịch bệnh trên tôm nuôi.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/bien-phap-phong-chong-nong-cho-tom-nuoi-36715.html

Các thành phần bổ sung trong chế độ ăn

Những công nghệ mới nổi để cải thiện môi trường đường ruột đang được nghiên cứu một cách nghiêm túc và đang bắt đầu được ứng dụng trong thức ăn nuôi trồng thủy sản.

Các thành phần bổ sung trong chế độ ăn

Sử dụng chế phẩm sinh học trong thức ăn, dù thành công trong dinh dưỡng cho người và động vật, nhưng chưa được chấp nhận thích đáng trong nuôi trồng thủy sản.

Các phương pháp phân phát thức ăn cải tiến và những hiểu biết tốt hơn về hệ vi sinh vật đường ruột của các loài động vật thủy sản có thể thay đổi vấn đề này trong tương lai (Balcazar et al. 2006).

Sử dụng các chất kích thích miễn dịch và chế độ ăn giảm stress để tăng cường phòng vệ cho động vật trong các giai đoạn stress nguy cấp đã và đang được khuyến khích trong ngành thức ăn thương mại.

Các hỗn hợp đã từng được đề xuất như là beta-glucan, các sản phẩm vi sinh và các chất dẫn xuất từ thực vật có khả năng kích hoạt các cơ chế phòng vệ bẩm sinh bằng cách hoạt động như là các thụ thể khởi động sự hoạt hóa gen (Galindo-Villegas và Hosokawa, 2004).

Probiotic (vi khuẩn có lợi) và prebiotic (chất tiền sinh) đang trong giai đoạn nghiên cứu tương tự thu hút rất nhiều sự quan tâm (Balcazar et al., 2006).

Axit hữu cơ và các loại tinh dầu đã được đề xuất sử dụng để điều chỉnh các nhóm vi khuẩn đường ruột, tăng cường sức đề kháng đối với một số tác nhân gây bệnh đường ruột cơ hội (Luckstadt, 2008), tạo điều kiện cho hệ vi khuẩn đường ruột khỏe mạnh, đồng thời giảm mật độ các chủng vi khuẩn có khả năng gây bệnh trong đường ruột (Luckstadt, 2008; Ringo et al, 2010.)

Nhìn chung, việc áp dụng các chiến lược dinh dưỡng và dùng các chất bổ sung cho chế độ ăn có thể điều chỉnh khả năng thích ứng toàn diện, sức khỏe đường ruột và đáp ứng miễn dịch của động vật thủy sản.

Dự kiến sẽ có nhiều sản phẩm hữu ích trong tương lai để góp phần phát triển nuôi trồng thủy sản bền vững hơn bằng cách tránh sử dụng thuốc.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/cac-thanh-phan-bo-sung-trong-che-do-an-36722.html

Nhóm giống gregarine kèm theo bệnh EMS

Khi ở số lượng nhiều, chúng dẫn đến các sợi phân trắng và một hiện tượng gọi là hội chứng phân trắng (WFS).

Nhóm giống gregarine kèm theo bệnh EMS

Dùng kính hiển vi quang học (LM) soi các tiêu bản giọt ép và các phết nhuộm từ mô gan tụy HP tươi cho thấy các nhóm hình như con sâu gần như trong suốt với độ rộng và đường kính tỷ lệ thuận với khoang trong ống gan tụy mà chúng xuất hiện ở đó.

Mặc dù bề ngoài hình như con sâu, nhưng chúng không có cấu trúc tế bào. Với độ phóng đại cao (LM 40-100x), chúng có vẻ như có một màng ngoài mỏng kèm theo một phức hợp các màng dày hơn và xếp vào nhau.

Kính hiển vi điện tử truyền qua (TEM) cho thấy màng ngoài không thành lớp của các nhóm hình như con sâu không giống với một màng sinh chất hoặc lớp ngoài của bất kỳ nhóm nguyên sinh động vật (gregarine), sinh vật đơn bào (protozoa) hoặc sinh vật đa bào (metazoa) nào khác được biết đến.

Các bào quan dưới tế bào như ty thể, nhân, mạng lưới nội chất và ribosome đều không có.

Các màng trong có một tiểu cấu trúc hình ống và đôi khi kèm theo toàn bộ các tế bào B, bong tróc từ biểu mô ống gan tụy (HP).

Các màng trong này được nhìn thấy xuất hiện từ vi nhung mao bị biến đổi bong ra từ các tế bào biểu mô gan tụy hình ống (HP) và sau đó tụ lại trong khoang ống.

Lấy đi lớp vi nhung mao, các tế bào phát xuất bị tan vỡ. Ngược lại, các tế bào B vẫn còn nguyên vẹn hoặc bị bong tróc một cách độc lập và toàn bộ khỏi biểu mô ống.

Đôi khi bị che lấp bởi vi nhung mao bị biến đổi tụ lại (ATM) thì chúng có thể bị lầm là các cấu trúc giống nang khi soi qua kính hiển vi quang học, góp phần làm cho chúng có bề ngoài giống gregarine.

Hiện nay không biết nguyên nhân của ATM, nhưng sự hình thành do mất vi nhung mao và sự tan vỡ tế bào tiếp theo cho thấy sự hình thành của chúng là một quá trình bệnh lý.

Nếu ở mức nghiêm trọng, chúng có thể làm chậm tốc độ tăng trưởng của tôm và có thể làm cho tôm mắc các bệnh cơ hội khác. Do vậy, nguyên nhân của ATM và mối quan hệ của chúng (nếu có) với AHPND nên được xác định rõ.”

Giới thiệu:

“Các kết quả được trình bày trong bản thảo này mô tả sự biến đổi, bong tróc và tụ hợp lại của vi nhung mao gan tụy thành các nhóm như hình con sâu có bề ngoài giống như gregarine

Được tìm thấy trong khoảng thời gian 6 năm theo kiểu từng phần một cũng như một loạt các quan sát bên lề độc lập ban đầu được thực hiện trong một khóa các dự án nghiên cứu chuyên môn về các tác nhân gây bệnh khác nhau trên tôm đã biết từ virút đến vi khuẩn, nấm và ký sinh trùng.

Mãi cho đến gần đây khi hiểu được các mối liên quan của những quan sát độc lập này thì mới chấp nhận các mối liên quan này thành một tổng thể thống nhất.

Một hoạt động quan trọng đã giúp chúng tôi hiểu được các liên quan giữa những quan sát từng phần của chúng tôi là một nghiên cứu chuyên sâu đã được thực hiện từ năm 2009 và đặc biệt là từ năm 2011 trên hàng trăm mẫu tôm trong nỗ lực nghiên cứu để xác định nguyên nhân gây bệnh hoại tử gan tụy cấp tính (AHPND) – đại dịch tôm gần đây nhất gây thiệt hại nghiêm trọng cho ngành nuôi tôm châu Á.”

Thảo luận:

“Có thể là quan trọng khi sự gia tăng lây lan ATM đã và đang trùng hợp với sự gia tăng lây lan bệnh AHPND.

Mặc dù điều này có thể đưa ra giả thuyết liên đới nguyên nhân có thể, nhưng cũng có sự trùng hợp gia tăng lây lan vi bào tử trùng gan tụy Enterocytozoon hepatopenaei với bệnh AHPND, và bây giờ chúng tôi biết chắc chắn không phải là một mối quan hệ nguyên nhân, bởi vì AHPND gây ra bởi vi khuẩn không liên quan [1].

Vì vậy, ít nhất đối với E. hepatopenaei và vi khuẩn AHPND, dường như khả năng có một số sự lây lan gia tăng là do tôm bố mẹ và / hoặc hậu ấu trùng (PL) bị nhiễm khuẩn.

Luận điểm này được hỗ trợ bởi bằng chứng giai thoại từ những người nuôi tôm Thái Lan cách xa nhau nhận được từng phần của lô giống riêng lẻ lấy từ đàn giống sạch bệnh (SPF) nhưng rồi sau đó bị bùng phát bệnh AHPND hầu như cùng một lúc.

Luận điểm này cũng được ủng hộ bởi phát hiện của chúng tôi về chủng địa phương E. hepatopenaei ở tôm bố mẹ và tôm giống (PL) của tôm thẻ chân trắng sạch bệnh (SPF) có nguồn gốc từ châu Mỹ mà ở đó loài vi bào tử trùng này chưa từng được báo cáo trước đây.”

“Tất cả các thông tin trước đó cho thấy các biện pháp an toàn sinh học ở ít nhất một số trại sản xuất tôm giống đã không đủ nghiêm ngặt để loại trừ lây nhiễm bởi các mầm bệnh nhập khẩu và / hoặc địa phương.

Vì vậy, chúng tôi phải xem xét hai khả năng liên quan đến ATM. Hoặc chúng là do một tác nhân mới đã có ở các đàn giống sạch bệnh (SPF) bị nhiễm khuẩn một cách tương tự như AHPND và E. hepatopenaei, hoặc là chúng tạo thành một biểu hiện khác của một tác nhân gây bệnh hiện có.

Ví dụ, vi khuẩn AHPND đã từng được báo cáo là sản sinh một chất độc mạnh, có thể gây bong tróc các tế bào biểu mô gan tụy ống [1], và liệu có thể có một độc tố tương tự ở liều lượng thấp có thể gây ra sự hình thành ATM khi không có sự bong tróc tế bào.

Để kiểm tra khả năng thứ hai này, mô hình lây nhiễm trong phòng thí nghiệm gần đây được mô tả [1] có thể được sử dụng với các mẫu độc tố đã pha loãng từ vi khuẩn gây bệnh.

Đối với sự tồn tại của một tác nhân mới thì cách hữu ích nhất là phân tích so sánh metagenomic (giải trình tự và phân tích ADN) trên tôm bị và không bị ATM.

Ngoài ra, có thể điều tra thêm về sự tham gia có thể của các nhóm mật độ electron nhỏ được mô tả ở đây có liên quan đến sự biến đổi vi nhung mao.

Ví dụ, có thể có khả năng tách chúng về mặt vật lý từ dịch mô đồng thể bằng cách ly tâm vi sai và / hoặc lọc để phân tích thêm và thực hiện thí nghiệm cảm nhiễm trong phòng thí nghiệm.”

“Tóm lại, chúng tôi đã phát hiện TEM là cấu trúc bề ngoài như hình con sâu giống gregarine và hiện nay thường được tìm thấy ở gan tụy (HP) của tôm nuôi châu Á không phải là những sinh vật độc lập nhưng là kết quả của sự chuyển đổi, bong tróc và tụ hợp lại của vi nhung mao từ các tế bào biểu mô ống lượn gan tụy của chúng.

Các tế bào biểu mô trọc sau đó bị tan vỡ, cho thấy quá trình này có khả năng tác động xấu đến sức tăng trưởng tôm và tỉ lệ sống, trong trường hợp rất nghiêm trọng có thể dẫn đến hiện tượng gọi là hội chứng phân trắng (WFS).

Cần thiết có điều tra thêm để hiểu được nguyên nhân của ATM và đánh giá tác động đến quá trình nuôi tôm.”

Hình 1. Dấu hiệu chung của hội chứng phân trắng WFS.

(a) nổi, sợi phân trắng. (b) các chuỗi phân trắng trên một sàng thức ăn. (c) ruột trắng của tôm bị tác động. (d) ruột màu nâu vàng của một con tôm bị tác động. (e) Chụp vi ảnh thành phần sợi phân. doi: 10.1371/journal.pone.0099170.g001

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/nhom-giong-gregarine-kem-theo-benh-ems-36730.html

EMS và giải pháp sống chung với với dịch bệnh – Phần 1

I. Tổng quan về EMS:

Người tìm ra bệnh: TS Lightner và cộng sự

Vi khuẩn gây bệnh: Vibrio parahaemolyticus

EMS và giải pháp sống chung với với dịch bệnh - Phần 1

Cách thức gây bệnh: VK (vi khuẩn) gây bệnh Vibrio parahaemolyticus bị nhiễm thực thể khuẩn đi vào ruột tôm qua đường miệng, bám vào thành ruột.

Sau đó sinh ra độc tố gây tổn thương gan tụy, làm tôm phát bệnh nên có tên gọi khác của EMS là bệnh hoại tử gan tụy cấp (hay nôm na là bệnh gan tụy).

Đặc điểm chung của bệnh: Có mặt mọi nơi, mọi lúc. Nhưng bùng phát thành dịch khi thời tiết nắng nóng cực đoan, hay nắng nóng đan xen mưa to (hoặc mây mù) bất chợt. Những ao nuôi quản lý môi trường kém thường có tỉ lệ phát bệnh rất cao.

* Nên lưu ý: EMS THÍCH – Độ mặn cao (độ mặn dưới 5/1000, gần như không có nguy cơ bị EMS. Điều này cho thấy, trong nước ngọt hoàn toàn không có VK gây bệnh này)

– pH cao. Ao nuôi có mật độ tảo cao, dày.

– Nhiệt độ cao, nước ao ấm, nóng

II. EMS dưới góc nhìn thực tế:

– Nhiệt độ càng cao, ao nuôi càng dễ phát bệnh.

– Ao nuôi có mật độ tảo dày, màu xanh đậm, dễ phát bệnh.

– Ao nuôi cho ăn nhiều, quản lý kém về môi trường, dễ phát bệnh.

Thống kê cho thấy: Các ao có màu xanh đậm, mật độ tảo dày có tỉ lệ chết trên 95%. Những ao nuôi sống sót thường có màu xanh nhạt, màu nâu trà, hoặc không có tảo (màu nước đục).

Theo các nhà nghiên cứu, thì trong các chủng của tảo, tảo có màu xanh là tảo có mức độ quang hợp mạnh nhất, nên làm tăng pH cao nhất.

Thống kê này, không có mô hình nuôi tôm theo công nghệ cao, như biofloc, nuôi tôm trong nhà.

– 1/ Những ao nuôi có tính đối phó với EMS như dùng kháng sinh định kì hoặc ngay từ đầu vẫn chết như thường.

– 2/ Những ao nuôi có tính đối phó với EMS như dùng thuốc sát trùng định kì 7 – 10 ngày / lần vẫn chết như thường.

– Những ao nuôi kết hợp cả 2 cách trên vẫn chết như thường.

Kết luận sơ bộ:

– Kháng sinh không thể phòng hay chữa được bệnh EMS.

– Thuốc sát trùng có diệt được VK (trên lý thuyết).

Nhưng điều đó là không hoàn toàn trên thực tế. Bởi sau khi sát trùng ao nuôi, một số cá thể VK sống sót, có tốc độ nhân bản nhanh chóng mặt và có khả năng lờn thuốc.

Như vậy, việc loại trừ mầm bệnh trong ao bằng cách sát trùng ao nuôi thường xuyên là cách nghĩ không thực tế.

* Giải pháp… sống chung với dịch bệnh

Lý luận từ thực tế:

Những ao nuôi có màu xanh đậm, tảo dày trước khi phát bệnh vẫn ăn tốt, phát triển tốt (kể cả những ao nuôi theo cách đối phó 1/ và 2/, hoặc cả 2).

Thậm chí, có ao còn ăn rất mạnh, lớn rất nhanh ở tuổi tôm sau 1 tháng tuổi. Nhưng chỉ sau một thời gian liên tục nắng nóng cực đoan hay đang nắng nóng, có mưa đột ngột thì ao nuôi phát bệnh và chết nhanh trên diện rộng.

Hiện tượng dễ thấy là tôm nuôi đột ngột bỏ ăn hoặc giảm ăn đáng kể, tôm suy yếu nhanh trong cử ăn chiều. Và đến sáng, có hiện tượng tôm búng nhảy trên mặt ao, bơi lập lờ, hoặc bơi xoay vòng. Tôm rớt đáy rất nhanh và số lượng tăng dần.

Câu hỏi đặt ra, là tại sao, sự việc diễn ra bất ngờ và nhanh như vậy?

– Ao nuôi bị khí độc?

Câu trả lời là: không hợp lý. Bởi đó là những ao nuôi mà khí độc chắc chắn được loại bỏ bằng vi sinh liều cao định kì hay bằng yucca. Hơn nữa, sự ngộ độc ao nuôi tôm là rất hiếm. Thông thường, ao tôm có khí độc thì tôm sẽ có biểu hiện mệt mỏi, có khi phải nổi đầu nếu không được giải độc tức thì.

– Ao nuôi bị thiếu oxy về đêm?

Câu trả lời: vẫn không hợp lý. Trước khi thiếu oxy trầm trọng , để dẫn đến ngạt thở mà chết, thì trước đó tôm sẽ có biểu hiện mệt mỏi, không ăn nổi cử sáng, và có khi cũng phải nổi đầu.

* Vậy thì, ao nuôi có biến động gì để tôm nuôi suy yếu nhanh và chết nhanh như vậy?

Giả sử có một ranh giới, giữa cái chết đột ngột và tôm đang ăn mạnh, thì cái ranh giới ấy đúng là mập mờ, và không thể xác định.

Nhưng chắc chắn là có cái ranh giới này. Và trong ao, đối tượng nào làm biến động môi trường nhanh đến vậy, để rồi tôm nuôi thích ứng không kịp, nên bị sốc, giảm sức đề kháng nhanh, suy yếu nhanh và phát bệnh?

Ai cũng biết; tảo cần cho ao nuôi tôm, bởi tảo tạo ra oxy, tạo ra hệ sinh thái cho ao tôm, nhờ đó tôm nuôi sống và phát triển. Môi trường ao nuôi tốt là môi trường hội đủ các điều kiện:

– pH từ 7.5 đến 8.5 và dao động 0.3 (tài liệu nuôi tôm khuyến cáo 0.5, là…xưa rồi);

– Kiềm trên 100 (nên 130 khi được 1 tháng tuổi);

– Độ trong 35cm trở lên;

– Độ sâu thấp nhất 1,2m;

– Các loại khí độc 0.1 hoặc là 0.

Người nuôi tôm không dễ dàng tạo ra pH như trên, độ trong như trên khi tôm ở ngưỡng 1 tháng tuổi, thì việc giữ được 2 yếu tố ấy có trong ao nuôi tôm là một chuyện quá khó khăn.

Bởi lẽ, độ trong, và pH nước đều phụ thuộc vào mật độ tảo. Tảo phát triển nhanh hay chậm, dày hay mỏng lại phụ thuộc vào thời tiết và mức độ hữu cơ trong ao.

Thời tiết thì do Trời làm, còn lượng hữu cơ trong ao thì do người nuôi tôm làm (cho tôm ăn); từ đó cho thấy, việc quản lý tảo (yếu tố làm biến động ao hàng ngày, hàng giờ) là chuyện cực kì khó.

Người nuôi làm nhiều cách (đối với người am hiểu) để khống chế tảo như: đánh vi sinh định kì hoặc cắt tảo bằng vi sinh, bằng vôi, bằng hóa chất.

Nhưng đến một lúc nào đó, người nuôi tôm không thể kiểm soát được tảo nữa. Tảo càng lên nhanh theo nhu cầu ăn của tôm nuôi (theo thời gian) và tình hình nắng nóng (theo cường độ bức xạ nhiệt).

Sự bùng phát này (hoặc suy giảm tảo, rớt tảo khi nắng mưa xen kẽ đột ngột) làm tăng hay giảm pH đột ngột, làm biên độ pH sáng chiều giãn rộng.

Điều này (chỉ có thể) đồng nghĩa với việc làm tăng tính độc của nước (NH3 hay H2S), nhưng chắc chắn làm tôm stress, suy giảm đề kháng, tạo cơ hội cho mầm bệnh bùng phát tức thì.

Đó là bằng chứng, chứng minh cho những ao nuôi tôm có màu nước ao xanh đậm, tảo dày hoặc môi trường ao kém, ao tôm có dấu hiệu tôm yếu bị LÊN ĐƯỜNG sau một vài cơn mưa hay nắng nóng kéo dài.

Trong vụ nuôi tôm đầu năm 2014 này, hầu hết những ao tôm sống sót đều mắc bệnh phân trắng.

Có 1 điểm chung nổi bật của những ao này là người nuôi gần như chăm chú chữa trị bệnh phân trắng mà quên đi chuyện EMS đang hoành hành.

Và thông thường khi chữa trị phân trắng thì việc đầu tiên là sát trùng ao, kế tiếp thay nước và cho ăn thuốc đặc trị hoặc vi sinh liều cao loại chất lượng cao.

Việc thay nước nhiều lần (theo kinh nghiệm truyền miệng) và việc sát trùng 1 hay 2 lần trong quá trình chữa trị phân trắng vô tình làm giảm đi đáng kể mật độ tảo, dẫn đến việc giảm pH nước từ từ, làm thu hẹp biên độ pH trong ngày.

Do bệnh có nguyên nhân từ thời tiết, nên chuyện chữa trị phân trắng không thể hết hoàn toàn, mà chỉ có tác dụng kéo dài tuổi tôm, tăng size để có giá, nên việc thay nước cũng diễn ra kéo dài, làm mất nguy cơ bùng phát tảo, là tác nhân chủ yếu làm biến động môi trường ao nuôi tức thời, thông qua việc làm tăng pH cũng như làm tăng biên độ dao động pH trong ngày (pH chiều trừ đi pH sáng).

So sánh và đối chiếu sau khi thống kê số ao bị sự cố và số ao sống sót, có thể kết luận rằng: Tảo là nguyên nhân trực tiếp làm biến động ao nuôi thông qua pH.

Sự biến động này vô hình và có sức mạnh vô cùng lớn (có thể làm tăng tính độc NH3 hay H2S trong ao), đủ làm suy yếu hệ miễn dịch của tôm nuôi, làm tăng khả năng cảm nhiễm bệnh và phát bệnh.

Kết luận này phù hợp với nguyên lý 3 vòng tròn gây bệnh trong nuôi tôm.

Có nghĩa là môi trường ao nuôi luôn tồn tại song song 2 thực thể: mầm bệnh và tôm. Loại trừ mầm bệnh ra khỏi ao nuôi hoàn toàn là việc làm bất khả thi.

Chỉ có cách SỐNG CHUNG VỚI DỊCH BỆNH một cách hòa bình theo tính toán mang tính chiến lược (chứ không phải đối phó) là cách tốt nhất.

Mầm bệnh lúc nào cũng có trong ao, sát trùng ao định kì không phải là cách tốt nhất để loại trừ mầm bệnh.

Chỉ làm sao để mầm bệnh không thể bùng phát.

Do đó, người nuôi nên chú trọng đến sức khỏe tôm nuôi và luôn giữ môi trường ao nuôi ổn định về pH, chất lượng nước ao; không để lượng hữu cơ (phốt phát PO4) trong ao tăng lên, không để tảo có cơ hội bùng phát khi nắng nóng.

Người nuôi tôm không thể loại trừ được mầm bệnh, nhưng có thể làm được 2 việc nêu trên (tăng cường sức khỏe cho tôm và giữ môi trường ao nuôi tôm luôn ổn định về pH, trong lành về chất lượng nước, sạch sẽ về chất hữu cơ), thì dù có mầm bệnh trong ao, tôm vẫn không phát bệnh, do các yếu tố gây bệnh bị mất đi.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/ems-va-giai-phap-song-chung-voi-voi-dich-benh-phan-1-32526.html