Monthly Archives: November 2017

Sử dụng men vi sinh trong nuôi trồng thủy sản

Trong nuôi trồng tôm cũng vậy, phải bón phân hữu cơ, phân vô cơ để gây màu nước trước khi thả tôm giống… tag: máy thổi khí atSử dụng men vi sinh trong nuôi trồng thủy sảnKhi bón phân cũng như trong lúc đang nuôi, thức ăn dư thừa “chứa chất hữu cơ” là thức ăn cho tảo thì tảo bùng phát, tảo phát triển nhiều quá, mà tảo bị sập thì không tốt, đi đến tình trạng thúi nước làm thiếu oxy ô nhiễm môi trường gây sốc cho con tôm và mang đến tử vong.

Muốn kềm chế tảo bùng phát thì phải đánh men vi sinh cho tôm định kỳ, con men vi sinh xử lý thức ăn dư thừa dọn dẹp đáy ao.

– Phân bón và thức ăn dư thừa tạo cho tảo bùng phát.
– Con men vi sinh xử lý thức ăn dư thừa dọn dẹp đáy ao.

Trong ao, tảo bùng phát thì bị con men vi sinh kềm chế (control)…do đó lúc nào trong ao cũng có đầy đủ tảo, không dư không thiếu…

Khi tảo, vừa được phân bón và thức ăn dư thừa để tăng trưởng, vừa bị con men vi sinh kềm chế (cắt và hạn chế thức ăn cho tảo), tảo không nhiều không ít vừa đủ ĐÓ LÀ MÀU NƯỚC TRONG AO TỐT…tốn tiền bón phân…tốn tiền men vi sinh kềm chế…nghịch lý có đúng không!!!

Nhưng đó là thuận lí, bởi vì con men vi sinh xử lý thức ăn dư thừa (hư thối tạo ra Ammonia NH3), dọn dẹp đáy ao. tag: máy thổi khí trại giống

Khi tảo bị kềm chế bởi con men vi sinh tức là môi trường pH không bị dao động, pH được ổn định, con men vi sinh xử lý ao đem lại SỰ CÂN BẰNG HỆ SINH THÁI.

Cho nên đánh men vi sinh định kỳ là điều tối cần thiết trong qui trình nuôi trồng tôm / cá.

Và nên nhớ rằng dòng đời của con men chỉ sống từ 3-14 ngày, nhưng theo qui trình truyền thống đánh men vi sinh định kỳ 15 ngày là sai, bởi vì có ai biết được từ ngày thứ 4 cho đến ngày thứ 14 con men vi sinh có còn sống trong ao hay không?

Nếu rủi như chúng chết hết trong thời gian từ ngày 4 đến ngày 15, thì lúc đó thức ăn dư thừa thối rữa, không ai dọn dẹp, tạo ra môi trường cho con virút xâm nhập bùng phát, khi phát hiện dịch bệnh thì đã muộn rồi, cho nên phải đánh men vi sinh định kỳ từ 5-7 ngày một lần.

Con men vi sinh cũng cần khí oxy để thở trong lúc chúng làm việc, cho nên phải cung cấp OXY ĐÁY AO là điều cần thiết và lượng oxy phải tăng gấp 2-3-4 lần “HƠN” qui trình nuôi công nghiệp (qui trình nuôi khép kín = Biofloc mật độ dầy). tag: máy thổi khí ương tôm

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/su-dung-men-vi-sinh-trong-nuoi-trong-thuy-san-36699.html

Ứng dụng công nghệ sinh học trong nuôi trồng thủy sản

Một trong những lựa chọn hiệu quả đó là sử dụng chế phẩm sinh học (men vi sinh, men tiêu hóa) trong quá trình nuôi. 

Chế phẩm sinh học là sản phẩm có chứa vi sinh vật sống nhằm mục đích cải thiện môi trường và vật nuôi. tag: máy thổi khí at

Ứng dụng công nghệ sinh học trong nuôi trồng thủy sản

Trong nuôi thủy sản, sử dụng chế phẩm sinh học (còn gọi là men vi sinh) nhằm mục đích cải thiện môi trường (nước và nền đáy ao), tăng sức khỏe vật nuôi, tăng khả năng hấp thu thức ăn… góp phần tăng năng suất và sản lượng.

Hiện nay trên thị trường có rất nhiều loại chế phẩm sinh học được sử dụng với các mục đích khác nhau dựa trên đặc tính của từng loại. Có thể thấy các lợi ích to lớn của chế phẩm sinh học trong nuôi trồng thủy sản:

– Phân hủy các chất hữu cơ trong nước, hấp thu xác tảo chết và làm giảm lớp bùn ở đáy ao.

– Giảm các độc tố trong môi trường nước do các chất khí: NH3, H2S… phát sinh, do đó giảm mùi hôi trong nước, giúp tôm cá phát triển tốt.

–  Nâng cao khả năng miễn dịch của động vật thủy sản.

– Ức chế sự hoạt động và phát triển của các vi khuẩn có hại do quá trình tăng sinh làm cho số lượng vi khuẩn có lợi tăng lên lấn át và kìm hảm hãm sự phát triển của các vi khuẩn gây hại, do đó hạn chế mầm bệnh phát triển. tag: máy thổi khí trại giống

Cần bổ xung chế phẩm sinh học định kỳ vào ao nuôi nhằm đảm bảo vi khuẩn có lợi tồn tại trong ao với số lượng lớn và để phòng bệnh cho động vật thủy sản.

– Ổn định pH của nước, ổn định màu nước do chế phẩm sinh học hấp thu chất dinh dưỡng hòa tan trong nước hạn chế tảo phát triển nhiều, giảm chi phí xử lý nước trong quá trình nuôi, tăng oxy hòa tan trong nước giúp động vật thủy sản khỏe mạnh và phát triển.

– Khi trộn chế phẩm sinh học (men vi sinh, men tiêu hóa) vào thức ăn có tác dụng hỗ trợ tiêu hóa, giúp hấp thu tốt thức ăn, làm tăng hiệu quả sử dụng thức ăn (giảm hệ số thức ăn), thúc đẩy tăng trưởng.

Sử dụng men vi sinh trong nuôi trồng thủy sản còn có tác dụng hạn chế việc sử dụng hóa chất bừa bãi, gây tác động xấu đến môi trường sinh thái và ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm.

Chính vì thế trong những năm qua, thành phố Hà Nội đã xây dựng các mô hình nuôi trồng thủy sản sử dụng chế phẩm sinh học, điều này góp phần làm thay đổi nhận thức của người dân và từng bước tạo ra những mô hình nuôi sạch, an toàn và bền vững. tag: máy thổi khí ương tôm

Nguồn:https://www.2lua.vn/article/ung-dung-cong-nghe-sinh-hoc-trong-nuoi-trong-thuy-san-36700.html

Nuôi tôm theo công nghệ sinh học

Xu thế phát triển tất yếu

Nuôi tôm theo CNSH hiện nay được coi là một giải pháp hỗ trợ mang tính tất yếu của ngành nuôi tôm công nghiệp tại nhiều nước trên thế giới. tag: máy thổi khí at

Sự xuống cấp của môi trường, dịch bệnh phát sinh, việc sử dụng hóa chất, thuốc kháng sinh trong phòng trị bệnh trong tôm nuôi đã ngày càng tạo áp lực phải thay đổi những cách thức tiếp cận mới trong nuôi tôm để ngành tôm có thể phát triển bền vững và quan trọng hơn là tôm và những sản phẩm từ tôm được chấp nhận trên thế giới, ngay cả những thị trường khó tính và khắt khe nhất.

CNSH ứng dụng rất nhiều trong ngành tôm từ lựa chọn tôm bố mẹ, sản xuất giống, chọn giống, phát hiện và điều trị bệnh, nuôi thương phẩm.

Trong đó, CNSH áp dụng trong nuôi tôm thương phẩm chủ yếu để đạt được những mục đích chính như : xử lý chất thải của tôm trong ao, tăng hệ số sử dụng thức ăn, ngăn ngừa sự bùng phát của dịch bệnh, hạn chế hoặc không dùng kháng sinh…

Nhiều quốc gia như Thái Lan đang phát triển công nghệ nuôi tôm theo CNSH, sau khi các lô hàng của họ bị thị trường EU trả về do phát hiện Chloramphenicol, một loại kháng sinh trong danh mục cấm sử dụng.

Hiện nay, 10% trong tổng số 20.000 trang trại nuôi tôm của Thái Lan đang nuôi tôm theo CNSH và số lượng này còn tăng trong những năm tiếp theo.

Indonesia đã áp dụng CNSH trong nuôi tôm thẻ chân trắng cho thấy chi phí sản xuất giảm khoảng 15-20%, năng suất và kích cỡ tôm đều được cải thiện, đặc biệt nguy cơ lây nhiễm dịch bệnh thấp do không phải thay nước trong quá trình nuôi.

Những công nghệ của tương lai

CNSH ( men vi sinh ) trong nuôi tôm thương phẩm hiện nay chủ yếu sử dụng những vi khuẩn có lợi trong việc phân hủy chất thải hữu cơ độc hại trong ao và kích thích quá trình sử dụng và tiêu hóa thức ăn của tôm.

Công nghệ đó được biết qua những tên chủ yếu là Probiotic và Biofloc.

Những mô hình nuôi tôm tiên tiến trên thế giới hiện nay như Raceway, tuần hoàn… chỉ có thể thực hiện được khi có nền tảng vững chắc về công nghệ Probiotic hoặc Biofloc, hoặc sự kết hợp hỗ trợ lẫn nhau của cả hai.

Probiotic ( men vi sinh, men tiêu hóa ) được hiểu là những vi khuẩn sống có lợi được bổ sung vào môi trường ao nuôi hoặc trực tiếp vào cơ thể tôm (qua con đường thức ăn).

Để các vi khuẩn hữu ích có điều kiện phát triển mạnh mẽ hơn, cải thiện tiêu hóa tốt hơn cho tôm thì cần phải sử dụng nguồn thức ăn “đặc biệt” cho các vi khuẩn có lợi được gọi là Prebiotics. tag: máy thổi khí trại giống

Các vi khuẩn có lợi được sử dụng phổ biến là các khuẩn hình que và khuẩn sữa được chế ở dạng lỏng hoặc dạng viên.

Việc sử dụng Probiotic đang dần phổ biến ở nhiều quốc gia bởi những lợi ích của nó mang lại và hy vọng có thể thay thế việc sử dụng thuốc kháng sinh và hóa chất trong nuôi tôm, có thể gây nguy hiểm cho sức khỏe con người.

Nếu công nghệ sinh học Probiotic tập trung vào sự hiệu quả của vi khuẩn với hệ tiêu hóa của tôm thì một công nghệ khác tập trung vào hiệu quả phân hủy nitơ (thức ăn dư thừa, chất thải của tôm) được gọi là Biofloc.

Công nghệ này hướng vào sử dụng vi khuẩn tự dưỡng để chúng có thể chuyển các chất thải hữu cơ (cơ chất) trực tiếp thành sinh khối vi khuẩn (thường rất giàu protein) trong thời gian cực ngắn mà không cần phải sử dụng ánh sáng mặt trời.

Khi được giữ lơ lửng liên tục trong nước và đạt đến một mật độ nhất định, các vi khuẩn sẽ kết dính lại với nhau thành những hạt nhỏ gọi là floc.

Mỗi floc có khoảng 2-20% là tế bào sống và 60-70% là chất hữu cơ, mỗi hạt floc ngoài vi khuẩn dị dưỡng còn có nấm, tảo, động vật phù du… là nguồn thức ăn tự nhiên có giá trị dinh dưỡng cao cho tôm.

Nhờ có sự phát triển CNSH nên nhiều mô hình nuôi tôm mới được phát triển và ứng dụng mang lại hiệu quả cao như công nghệ nuôi tôm siêu thâm canh trong đường máng nước xếp chồng lên nhau ở Mỹ, có thể sản xuất ra tôm có cỡ lớn tới 1,1 ounce/con và sản lượng 25kg/m3 nước…

Có thể nói công nghệ sinh học sẽ là chiếc chìa khóa vàng cho ngành tôm của thế giới trong tương lai.

TẠI VIỆT NAM, NĂM 2010, NHÓM NGHIÊN CỨU CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC TẾ (ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH) ĐÃ HOÀN THÀNH NGHIÊN CỨU VỀ ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ BIOFLOC, VỚI ƯU THẾ GIẢM THIỂU NGUY CƠ LÂY NHIỄM DỊCH BỆNH, TĂNG NĂNG SUẤT VÀ ĐẶC BIỆT LÀ TIẾT KIỆM CHI PHÍ THỨC ĂN CHO NGƯỜI NUÔI TÔM. tag: máy thổi khí ương tôm

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/nuoi-tom-theo-cong-nghe-sinh-hoc-36701.html

Một số khái niệm về vi khuẩn có lợi (probiotic)

Moriarty (1996a, 1998) đã mở rộng định nghĩa này cho nuôi trồng thủy sản bao gồm việc đưa các loài vi khuẩn tự nhiên vào bể / ao nuôi động vật thủy sản. tag: máy thổi khí at

Vi khuẩn có lợi (probiotic) cải thiện sức khỏe của tôm hoặc cá bằng cách kiểm soát các loài vi khuẩn gây bệnh và cải thiện chất lượng nước bằng cách thay đổi thành phần nhóm vi khuẩn trong nước và trầm tích (bùn) đáy ao.

Vi khuẩn có lợi (probiotic) đi vào đường ruột hoặc bám vào bề mặt ngoài của động vật hoặc trực tiếp từ nước hoặc qua việc bám dính đầu tiên vào thức ăn hoặc các mảnh vụn thức ăn khác đã ăn vào.

Do đó, chúng được sử dụng trong nuôi trồng thủy sản để làm chất xử lý chất lượng nước và đáy ao cũng như làm thức ăn bổ sung.

Khi chúng tôi bắt đầu sử dụng chế phẩm sinh học (probiotic) trong các trại nuôi tôm thương phẩm thì các sản phẩm sẵn có đều dùng giống trọng yếu là vi khuẩn Bacillus ở định lượng thấp.

Trước khi sử dụng, người nuôi phải ủ chúng với một môi trường dinh dưỡng để sản sinh ra một lượng vi khuẩn đủ cao rồi mới đưa vào trong ao nuôi để có tác dụng tốt (Moriarty 1996, 1996 b, 1998). tag: máy thổi khí trại giống

Hiện nay chúng tôi có thể sản xuất các chủng vi khuẩn Bacillus thuần khiết với chi phí thấp và bán ra thị trường dưới dạng bột gồm hỗn hợp các bào tử có thời hạn sử dụng dài. Sử dụng các loại bột đơn giản hơn cho người nuôi.

Nhiều người nuôi tôm và cá thường nghĩ chế phẩm sinh học (men vi sinh, men tiêu hóa) là các loại thuốc như là thuốc kháng sinh. Họ mong đợi một tác dụng nhanh chóng và quyết định.

Họ bị nản lòng khi mà kết quả sử dụng chế phẩm sinh học (men vi sinh, men tiêu hóa) không phải ngay tức thì và không có tác dụng mạnh.

“Sự thay đổi của một nhóm vi khuẩn cần có thời gian. Đó là một quá trình liên tục cần phải bổ sung các chủng vi khuẩn có lợi trong suốt vụ nuôi”.

Các loài vi khuẩn đưa vào sử dụng phải được lựa chọn theo các chức năng cụ thể, ở một mật độ quần thể đủ cao và trong các điều kiện môi trường thích hợp để có hiệu quả. tag: máy thổi khí ương tôm

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/mot-so-khai-niem-ve-vi-khuan-co-loi-probiotic-36703.html

Làm giảm ô nhiễm ao nuôi tôm

Chọn công nghệ

Để hạn chế ô nhiễm trong ao nuôi đối với những địa phương có diện tích nuôi trồng thủy sản lớn như Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng…, người nuôi có thể chọn công nghệ nuôi truyền thống phù hợp, gồm các loại hình: nuôi tôm sinh thái, nuôi quảng canh, quảng canh cải tiến. tag: máy thổi khí at

Những loại hình nuôi này thường sử dụng thức ăn tự nhiên là chính, hoặc bổ sung một lượng nhỏ thức ăn.

Vừa hạn chế được ô nhiễm nước vừa có giá bán cao khi thu hoạch, phù hợp khả năng đầu tư của đa số hộ dân.

Đối với những doanh nghiệp nuôi và người dân có kinh nghiệm, có điều kiện kinh tế, có thể chọn những công nghệ nuôi tiên tiến, như: nuôi trải bạt nền đáy, nuôi tôm trong nhà kính, Biofloc, lọc tuần hoàn…

Những công nghệ này đều có điểm chung là vốn đầu tư lớn, tôm được thả nuôi với mật độ cao, các yếu tố môi trường được khống chế, hạn chế đến mức thấp nhất ảnh hưởng của bên ngoài đến ao nuôi, tạo điều kiện thuận lợi cho tôm sinh trưởng và phát triển tốt.

Ưu điểm của việc sử dụng các công nghệ này là chất thải của tôm trong quá trình nuôi được xử lý triệt để, không ảnh hưởng đến môi trường nước ao nuôi và xung quanh.

Cải tạo ao

Là khâu kỹ thuật quan trọng, góp phần hạn chế được nguồn ô nhiễm tiềm ẩn ao nuôi cả về môi trường và dịch bệnh. Do vậy trong quá trình cải tạo cần thực hiện các khâu kỹ thuật sau:

Thiết kế ao lắng, chiếm 10 – 15% diện tích ao nuôi. Ao là nơi lắng lọc và sử dụng hóa chất để xử lý nước trước khi cấp nước vào ao, đảm bảo nước khi được cấp vào ao phải trong, sạch và không có vi khuẩn gây bệnh.

Đối với ao mới đào, cần sử dụng vôi nông nghiệp CaO để trung hòa pH và tiêu diệt mầm bệnh, với liều lượng 12 – 15 kg/100 m2.

Vôi được rải đều trên bờ và đáy ao, dùng máy lồng cho vôi và bùn đáy ao lẫn vào nhau, ngâm nước sâu 5 cm từ 5 đến 7 ngày, sau đó bơm cạn, phơi đáy và lấy nước vào ao.

Ao đã nuôi được nhiều vụ cần sên vét hết lớp bùn đen ở đáy ao, dùng vôi rải xuống ao với liều lượng 10 – 12 kg/100 m2. Sau đó nên san phẳng nền đáy, hơi dốc về cống thoát, phơi ao 5 – 7 ngày.

Nếu người dân hoặc doanh nghiệp nuôi tôm có khả năng đầu tư, có thể trải bạt nền đáy hoặc bờ ao để hạn chế ô nhiễm từ đáy ao và thuận lợi cho việc định kỳ hằng tuần xi phông chất thải ra bên ngoài.

Chất lượng giống, mật độ thả

Chất lượng tôm giống có thể quyết định đến 60% tỷ lệ thành công. Để ao nuôi không bị ô nhiễm bởi dịch bệnh do giống kém chất lượng gây ra, người nuôi phải làm tốt khâu chọn giống ngay từ đầu. Giống nên được kiểm dịch bởi cơ quan có thẩm quyền và được cung cấp bởi những công ty có uy tín.

Thực tế nuôi tôm hiện nay, ngoài một số cá nhân và doanh nghiệp có khả năng đầu tư nuôi quy mô lớn, còn lại hầu hết đều các hộ nuôi nhỏ lẻ, khả năng đầu tư thấp.

Theo khuyến cáo của các chuyên gia, để nuôi tôm theo hướng bền vững, giảm thiểu ô nhiễm nước ao, người nuôi nên thả với mật độ vừa phải, tôm sú (10 – 20 con/m2), tôm thẻ chân trắng (40 – 60 con/m2). tag: máy thổi khí trại giống

Quản lý môi trường

Từ lúc cải tạo ao đến khi thả giống và thu hoạch, việc quản lý môi trường nước ao luôn được chú trọng và theo dõi chặt chẽ. Nên áp dụng quy trình kỹ thuật nuôi tôm sạch, hạn chế sử dụng hóa chất để xử lý môi trường ao nuôi.

Quản lý tốt sự phát triển của tảo trong ao nuôi, tránh hiện tượng tảo tàn, gây ô nhiễm nước ao.

Tăng cường sử dụng chế phẩm sinh học ( men vi sinh ) định kỳ để chuyển hóa các chất gây ô nhiễm thành dạng không độc hại, đồng thời phát triển các vi khuẩn có lợi cạnh tranh nơi sống và thức ăn của vi khuẩn có hại, khống chế không cho chúng bùng phát gây ô nhiễm, dịch bệnh cho ao nuôi.

Đối với nuôi tôm mật độ cao, lượng chất thải lớn, sinh ra nhiều khí độc trong nước; do vậy cần lắp đặt các dàn quạt lông nhím để hàm lượng ôxy từ không khí được cung cấp xuống tận đáy ao, giúp các phản ứng hóa học và quá trình phân hủy hiếu khí của vi khuẩn diễn ra thuận lợi hơn.

Thức ăn và cho ăn

Để tôm nuôi hấp thụ được tối đa lượng dinh dưỡng trong thức ăn, cần chọn loại thức ăn có chất lượng, phù hợp loài nuôi và với từng giai đoạn phát triển của tôm.

Tránh hiện tượng thức ăn kém chất lượng, chẳng những tôm hấp thu không hết chất dinh dưỡng trong thức ăn mà lượng chất thải ra nhiều hơn, làm tăng ô nhiễm nước ao.

Cùng với lựa chọn thức ăn tốt, việc cho tôm ăn đủ không những hạn chế được ô nhiễm của lượng thức ăn thừa gây ra mà còn tiết kiệm được chi phí trong nuôi tôm.

Cho tôm ăn cần tuân thủ đúng quy trình kỹ thuật, đồng thời nên dựa theo sức ăn thực tế và những lần lột xác của tôm để có sự điều chỉnh hợp lý.

Nuôi ghép với loài khác

Để hạn chế chất thải trong quá trình nuôi tôm gây ô nhiễm môi trường nước ao, ngoài các biện pháp kể trên, hộ nuôi có thể sử dụng các mô hình nuôi ghép tôm với các loài khác (như cá rô phi, cá đối, cá dìa, rong câu, ốc hương…).

Mục đích dùng các loài nuôi ghép sử dụng lượng chất thải mà tôm thải ra làm thức ăn, hạn chế ô nhiễm môi trường nước ao, đồng thời tăng sản phẩm thu hoạch mỗi vụ nuôi.

Chọn loại hình nuôi hợp lý, cải tạo, quản lý môi trường ao nuôi tốt, sử dụng thức ăn phù hợp và nuôi ghép với những loài khác là những biện pháp cơ bản làm giảm thiểu ô nhiễm môi trường ao nuôi tôm. tag: máy thổi khí ương tôm

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/lam-giam-o-nhiem-ao-nuoi-tom-36704.html

Vi khuẩn là gì

Vi khuẩn có hại có thể gây bệnh cho chúng ta. Bên cạnh hại khuẩn, chúng ta có lợi khuẩn – chúng giúp chúng ta tiêu hóa thức ăn, hoặc nhờ lợi khuẩn trong phân bón hữu cơ để biến chất thải thức ăn thành đất mới. tag: máy thổi khí at

Vi khuẩn là những vi sinh vật sống, những đơn bào nhỏ gọi là tế bào nhân sơ không chứa nhân và thường tìm thấy những nhóm rất lớn bởi vì chúng có thể sinh sản nhanh chóng.

Có rất nhiều loại vi khuẩn khác nhau và được chia thành những loại và nhóm khác nhau, mỗi một nhóm có các đặc tính rất riêng biệt.

Vi khuẩn là những tế bào đơn giản nhất và nhỏ hơn tế bào người rất nhiều, bằng 1/100 kích thước tế bào người.

Các tế bào người lớn nhất bằng đường kính của sợi tóc, nhưng đa phần các tế người nhỏ bằng 1/10 đường kính sợi tóc. Bởi vì vi khuẩn rất nhỏ nên chúng ta chỉ có thể nhìn thấy được qua kính hiển vi.

 

Mẫu vi khuẩn E. coli

Vi khuẩn được bao phủ bởi lớp màng tế bào, bên trong màng là tế bào chất gồm 70% là nước và 30% là các enzyme (các protein mà tế bào tự tạo ra để dùng làm nguồn năng lượng).

Ở giữa tế bào là ADN hình cầu. ADN về cơ bản là một mẫu để thông tin cho tế bào tạo ra các protein của riêng nó như thế nào.

Nếu bạn có thể duỗi thẳng chuỗi ADN ra thành một sợi dài, thì thực sự kinh ngạc bởi nó có chiều dài gấp 1.000 lần chiều dài của tế bào vi khuẩn.

ADN của một tế bào vi khuẩn không được bảo vệ, nó nổi trong tế bào chất. Bên ngoài tế bào có các sợi dài gọi là tiên mao để giúp cho tế bào di chuyển. Không phải tất cả vi khuẩn đều có tiên mao, một số loài vẫn có các cách di chuyển khác nhau.

Dù vi khuẩn là tế bào cực nhỏ, nhưng chúng cũng có nhiều hình dạng và kích thước khác nhau.

Hình dạng phổ biến nhất là hình que, hình cầu, hình xoắn ốc, và trong những nhóm hình dạng này vi khuẩn có thể to, nhỏ, bầu dục, mập, dài, ngắn và thậm chí đầu này dày hơn đầu kia. Sự khác nhau về kích thước và hình dạng của vi khuẩn là do tất cả chúng có gien khác nhau (ADN).

Toàn bộ các đặc tính này gọi là hình thái học của vi khuẩn. Vi khuẩn cũng có thể tồn tại ở các dạng đơn bào hoặc thành nhóm như các chuỗi, các cặp và các cụm.

Trong khi hầu hết vi khuẩn phải tìm thức ăn (đường, protein (chất đạm), vitamin) để sống, một số khác có thể tự tạo ra thức ăn cho chúng từ các thứ trong môi trường như ánh nắng và carbon dioxide. tag: máy thổi khí trại giống

Một số vi khuẩn cần năng lượng từ môi trường để làm thức ăn, trong khi một số vi khuẩn khác có thể tự tạo ra năng lượng bằng cách sử dụng các nguyên tố khác chung quanh nó.

Một số loài vi khuẩn có thể mọc tốt nhất ở những nơi mát, ẩm thấp như trong đất hoặc ở trong ao, trong khi số khác có thể mọc ở những nơi nóng như trong máy nước nóng hoặc gần núi lửa dưới biển.

Thậm chí có loài vi khuẩn có thể chịu được hơi phóng xạ mạnh gấp 1.000 lần. Vi khuẩn hiện diện khắp nơi.

Có những loài vi khuẩn gây bệnh trên người, động vật và thực vật, chúng có thể lây nhiễm bằng cách có mặt trong những gì mà bạn ăn và uống. Một vài loài vi khuẩn có hại như E. coliSalmonellaCampylobacter và Legionella.

Khi tế bào phân chia, mỗi một tế bào mới là bản sao chính xác của tế bào mẹ theo như mô hình sau:

Một số loài vi khuẩn có thể nhân đôi quần thể của chúng chỉ trong vòng 20 phút.

Chỉ với một tế bào vi khuẩn và chỉ trong 4,5 giờ đồng hồ có thể sản sinh trên 16.000 tế bào. Vì thế vi khuẩn chẳng mất nhiều thời gian để tạo ra đủ lượng tế bào vi khuẩn để làm cho bạn ốm.

Chúng ta có thể bảo vệ chính mình khỏi các loài vi khuẩn gây bệnh ngay cả khi không thể nhìn thấy chúng.

Điều quan trọng là bạn luôn luôn rửa tay sau khi đi vệ sinh và hỉ mũi, rửa tay trước khi ăn và chuẩn bị thức ăn cho chính mình và cho người khác. Sau mỗi bữa ăn, cất thức ăn thừa vào trong tủ lạnh càng sớm càng tốt.

Không uống nước bẩn như nước từ bể bơi, sông, ao, hồ. Dù nhìn thấy nước có thể sạch sẽ và trong, nhưng có thể có các tế bào vi khuẩn nhỏ bé ở đó!

Nếu cẩn thận, bạn có thể tránh được vi khuẩn có hại và luôn biết rằng có nhiều loài vi khuẩn có lợi đang giúp đỡ chúng ta hàng ngày! tag: máy thổi khí ương tôm

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/vi-khuan-la-gi-36705.html

Các loại tác nhân gây bệnh trên tôm ở châu Á

Nếu so sánh thì thiệt hại do nấm và ký sinh trùng gây ra là tương đối ít. Đối với vi khuẩn gây bệnh thì các loài vi khuẩn Vibrio là nhiều nhất. tag: máy thổi khí at

T rong khi đó đối với virút gây bệnh thì đã có sự thay đổi lớn kể từ năm 2003 khi tôm thẻ chân trắng Mỹ Penaeus(Litopenaeusvannamei (Boone 1931) được gia hóa và chọn lọc di truyền đàn thay thế các loài nuôi chính chiếm ưu thế là tôm càng xanh và tôm sú Penaeus (Penaeusmonodon (Fabricius 1798).

Hội chứng virút đốm trắng (WSSV) và đầu vàng (YHV) gây chết nhiều nhất trên cả 2 loài tôm này.

Tiếp theo chính là loài virút gây ra bệnh hoại tử cơ trên tôm thẻ chân trắng (IMNV), khởi đầu được báo cáo xuất hiện từ Brazil, nhưng kể từ năm 2006 là từ Indonesia có thể là do sơ suất khi nhập khẩu đàn giống đưa vào nuôi trồng ở nước này.

Cho đến nay, IMNV chưa được báo cáo từ nước nào khác ở châu Á. tag: máy thổi khí trại giống

Những tác động trước đây của hội chứng virút Taura (TSV) và virút gây bệnh hoại tử cơ quan tạo máu và cơ quan lập biểu mô (IHHNV) trên loài này đã giảm đáng kể là do đưa vào các đàn giống có khả năng chống chịu và thực hiện thực hành tốt an toàn sinh học.

Một vấn đề khác gần đây được báo cáo trên tôm thẻ chân trắng ở châu Á là bệnh biến dạng khúc bụng (ASDD) có thể gây ra bởi một tác nhân giống như retrovirus trước đây chưa biết.

Một loại bệnh chính sau bệnh đốm trắng (WSSV) và đầu vàng (YHV) trên tôm sú là hội chứng tăng trưởng chậm (MSGS) mà nguyên nhân là do virút Laem Singh (LSNV) và yếu tố chứa enzym integrase bí ẩn [integrase containing element (ICE)].

Bệnh gan tụy do Parvovirus (HPV) và bệnh còi monodon baculovirus (MBV) có thể khó giải quyết khi sử dụng tôm sú được đánh bắt để sản xuất ấu trùng, nhưng chỉ xảy ra trong trường hợp không có biện pháp phòng ngừa thích hợp.

Kể từ năm 2009 thiệt hại ngày càng nhiều trên tôm thẻ chân trắng ở Trung Quốc, Việt Nam và Thái Lan bây giờ có liên quan với hội chứng hoại tử gan tụy cấp tính (AHPNS).

Mặc dù bị những vấn đề này, tổng sản lượng tôm penaeid nuôi trồng từ châu Á sẽ có thể tiếp tục tăng khi các vấn đề bệnh nhất thời được giải quyết và việc sử dụng tôm giống có nguồn gốc từ các đàn giống sạch bệnh (SPF) được gia hóa trong môi trường an toàn sinh học mở rộng hơn. tag: máy thổi khí ương tôm

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/cac-loai-tac-nhan-gay-benh-tren-tom-o-chau-a-36706.html

Hydrogen Sulfide độc nhưng có thể quản lý được

Các cách thực hành chính để giảm thiểu nguy cơ độc tính của hydrogen sulfide là cho ăn thận trọng để tránh thức ăn bị lãng phí ở đáy ao, sục khí nhiều để tránh mức oxy hòa tan thấp và tạo một dòng nước chảy có thêm oxy ngang qua bề mặt phân giới giữa đất và nước, bón vôi để ngăn chặn chất lắng đọng và nước có tính axit. tag: máy thổi khí at

Tiến sĩ Claude E. Boyd, Khoa Thủy sản và Liên minh nuôi trồng thủy sản

Đại học Auburn, Auburn, Alabama 36849 USA

Hydrogen sulfide sinh ra ở lớp đất trầm tích chủ yếu là do các vi sinh vật khử sulfate, có thể khuếch tán vào lớp nước mặt bên trên và trong cột nước.

Lưu huỳnh là một nguyên tố thiết yếu cho thực vật, động vật và vi khuẩn, có ở các vùng nước tự nhiên và nước trong các hệ thống nuôi trồng thủy sản, chủ yếu ở dạng ion sunfate.

Ở các khu vực ẩm ướt, nồng độ sunfate trong nước thường là 5-50 mg/L, nhưng trong vùng khô hạn, nồng độ thường vượt quá 100 mg/L.

Nước biển chứa trung bình 2.700 mg/L sulfate. Dù hiếm khi sử dụng sulfate cho các hệ thống nuôi trồng thủy sản đặc biệt để tăng nồng độ môi trường xung quanh, nhưng nó có trong thức ăn và một số cách cải thiện chất lượng nước.

Các vấn đề trong nuôi trồng thủy sản

Vấn đề chính liên quan đến lưu huỳnh trong nuôi trồng thủy sản là thường xuyên có nồng độ độc hydrogen sulfide.

Sulfide có thể xuất hiện trong nước bởi vì nó là chất chuyển hóa của Desulfovibrio (vi khuẩn khử sulfate) và vài loài vi khuẩn khác được tìm thấy ở các vùng kỵ khí – thường là ở đất trầm tích.

Các loài vi khuẩn này sử dụng oxy từ sulfate như một sự thay thế oxy phân tử trong quá trình hô hấp.

Có ba dạng của sulfide (H2S, HS- và S2-) và chúng tồn tại ở một mức cân bằng tùy thuộc nhiệt độ và pH. Ảnh hưởng của pH lên sự phân bố của ba dạng này khi ở nhiệt độ 25 °C được thể hiện trong Hình 1.

Khi pH tăng lên, tỷ lệ hydrogen sulfide giảm và như thế HS- tăng cho đến khi hai dạng này có tỷ lệ xấp xỉ bằng nhau ở pH 7. Ở pH cao hơn, HS là dạng trội hơn và không có dạng S2- cho đến khi pH trên 11.

Hydrogen sulfide có tính độc đối với động vật thủy sản bởi vì nó cản trở quá trình tái oxy hóa của cytochrome a3 trong quá trình hô hấp.

Tác động này gần như hoàn toàn là do H2S gây ra, trong khi đó về bản chất HS- là không độc. Ngay cả khi độc thì S2- không phải là vấn đề, bởi vì nó không xuất hiện ở các giá trị pH được nhận thấy trong các hệ thống nuôi trồng thủy sản.

Nồng độ Hydrogen Sulfide

Nồng độ hydrogen sulfide phải được ước tính từ tổng nồng độ sulfide, bởi vì các phương pháp để xác định sulfide trong nước điển hình đều đo tổng nồng độ của ba dạng sulfide.

Tỷ lệ H2S ở các giá trị pH và nhiệt độ khác nhau đưa ra trong Bảng 1 có thể được sử dụng để ước tính nồng độ hydrogen sulfide.

Để minh họa, giả sử pH là 7,5 ở 26 °C trong nước ngọt với nồng độ sulfide 0,5 mg/L. Hệ số đối với các điều kiện này là 0,238. Nhân hệ số với nồng độ sulfide 0,5 mg/L ra nồng độ H2S là 0,119 mg/L.

Trong nước biển có cùng nhiệt độ và pH, nồng độ sẽ ít hơn và với hệ số 0,9.

Sulfide trong đất trầm tích

Sự hình thành hydrogen sulfide ở đất trầm tích chủ yếu là kết quả của quá trình khử sulfate bởi các vi sinh vật.

Quá trình khử sulfate xuất hiện ở thế oxy hóa khử thấp hơn là cần thiết cho quá trình khử sắt và mangan bởi các vi sinh vật.

Do đó, sắt (hóa trị II) mangan (hóa trị II) thường có ở những nơi hydrogen sulfide được sinh ra.

Sắt, mangan và các kim loại khác phản ứng với hydrogen sulfide một cách nhanh chóng để tạo thành sunfide kim loại không tan mà kết tủa.

Quá trình này thường làm giảm nồng độ hydrogen sulfide trong đất trầm tích, nhưng đã có báo cáo về nồng độ trên 100 mg/L hydrogen sulfide ở một số loại đất trầm tích.

Hydrogen sulfide trong đất trầm tích có thể khuếch tán vào trong lớp nước mặt bên trên, cũng có thể được trộn vào cột nước bởi hoạt động sinh học và xáo trộn trầm tích do kéo lưới và các dòng nước mạnh do gió hoặc thông khí cơ học. tag: máy thổi khí trại giống

Nếu tốc độ hydrogen sulfide khuyếch tán vào nước vượt quá tốc độ oxy hóa của nó thì sẽ phát hiện được nồng độ của độc tố tiềm tàng này trong cột nước – đặc biệt là trong lớp nước cao vài cm trên bề mặt phân giới giữa đất trầm tích và nước.

Độc tính

Các giá trị LC50 96 giờ (gây chết 50% sinh vật thí nghiệm trong 96 giờ) của hydrogen sulfide đối với các loài cá nước ngọt nằm trong khoảng 20-50 µg/L, các nồng độ gây căng thẳng và làm cho cá dễ nhiễm bệnh còn thấp hơn nhiều. Một cách đo độc tính – LC50 phản ánh nồng độ của một hợp chất trong nước làm chết 50% động vật thí nghiệm trong một thời gian đã xác định, ví dụ như LC50 96 giờ.

Lý tưởng là cá nước ngọt không nên phơi nhiễm ở nồng độ hydrogen sulfide trên 2 µg/L trong thời gian dài. Tôm và các loài hải sản khác có xu hướng chống chịu được hydrogen sulfide hơn các loài nước ngọt.

Các giá trị LC50 96 giờ của hydrogen sulfide đối với các loài sinh vật biển nằm trong khoảng 50-500 µg/L.

Tuy nhiên, nồng độ hydrogen sulfide có lẽ không nên vượt quá 5 µg/L trong các ao nuôi trồng thủy sản nước lợ có nồng độ nước biển cao nhất. Như với cá nước ngọt, nồng độ hydrogen sulfide cao làm các loài sinh vật biển dễ mắc bệnh hơn – đặc biệt là bệnh Vibriosis ở tôm​​.

Các nghiên cứu ở các hệ thống đất và nước trong phòng thí nghiệm được thực hiện tại Đại học Texas A & M đã đưa ra nồng độ sulfide cao trong nước ở lỗ rỗng trầm tích không ảnh hưởng đến tôm, miễn là bề mặt phân giới giữa đất và nước duy trì ở tình trạng hiếu khí và nồng độ oxy hòa tan trong cột nước là 70% oxy bão hòa hoặc cao hơn.

Các nghiên cứu cũng đã cho thấy nguy cơ độc tính hydrogen sulfide tăng khi pH đất trầm tích và nước thấp hơn.

Cách đo

Cách đo tổng nồng độ sulfide là một công việc phức tạp bằng các phương pháp thí nghiệm chuẩn, nhưng người nuôi trồng thủy sản có thể sử dụng bộ dụng cụ đo hydrogen sulfide để phân tích tổng sulfide dễ dàng hơn. Các bộ dụng cụ này cho số liệu tương đối đáng tin cậy.

Tất nhiên, ước lượng nồng độ hydrogen sulfide từ tổng nồng độ sulfide đòi hỏi số liệu về nhiệt độ nước và pH (Bảng 1).

Thường có thể phát hiện được sự xuất hiện của hydrogen sulfide là do có mùi trứng thối. Hydrogen sulfide có thể đo được trong nước thường có nghĩa là nồng độ oxy hòa tan trong nước hoặc tại bề mặt phân giới giữa đất trầm tích và nước ở mức thấp, nên tăng cường sục khí.

Bảng 1. Các hệ số để ước tính nồng độ hydrogen sulfide từ nồng độ tổng sulfide đo được. Đối với nước biển, nhân các hệ số với 0,9.

pH

Nhiệt độ (° C)

 

16

18

20

22

24

26

28

30

32

5,0

5,5

6,0

6,5

7,0

7,5

8,0

8,5

9,0

0,993

0,977

0,932

0,812

0,577

0,301

0,120

0,041

0,013

0,992

0,976

0,928

0,802

0,562

0,289

0,114

0,039

0,013

0,992

0,974

0,923

0,792

0,546

0,275

0,107

0,037

0,012

0,991

0,973

0,920

0,781

0,530

0,263

0,101

0,034

0,011

0,991

0,971

0,914

0,770

0,514

0,250

0,096

0,032

0,010

0,990

0,969

0,908

0,758

0,497

0,238

0,090

0,030

0,010

0,989

0,967

0,903

0,746

0,482

0,227

0,085

0,029

0,009

0,989

0,965

0,897

0,734

0,466

0,216

0,080

0,027

0,009

0,989

0,963

0,891

0,721

0,450

0,206

0,076

0,025

0,008

Quản lý

Như đã đề cập ở trên, các dòng nước do sục khí tạo ra có thể làm xáo trộn trầm tích, tạo thuận lợi để trộn hydrogen sulfide vào trong nước, nhưng các lợi ích tích cực của việc đưa thêm oxy bằng cách sục khí có tác dụng hơn nhiều.

Tuy nhiên, các thiết bị sục khí nên được lắp đặt theo cách giảm thiểu xáo trộn đất trầm tích.

Các cách thực hành chính để giảm thiểu nguy cơ độc tính của hydrogen sulfide là cho ăn thận trọng để tránh thức ăn bị lãng phí ở đáy ao, sục khí nhiều để tránh mức oxy hòa tan thấp và tạo một dòng nước chảy có thêm oxy ngang qua bề mặt phân giới giữa đất và nước, bón vôi để ngăn chặn chất lắng đọng và nước có tính axit.

Nên phơi kỹ đáy ao giữa các vụ. Đất trầm tích, bùn đáy ở những chỗ quá sâu để có thể khô hoàn toàn nên rút bỏ khỏi ao và đáy ao có tính axit nên được rải vôi.

Một số sản phẩm đôi khi được sử dụng cho ao vì chúng có khả năng làm giảm hydrogen sulfide.

Các sản phẩm này như là dùng kali permanganate ở nồng độ cao hơn nồng độ hydrogen sulfide sáu đến tám lần – permanganat có thể oxy hóa sulfide.

Các hợp chất sắt như oxit sắt đã được sử dụng cho đất trầm tích theo tỷ lệ 1 kg/m2 hoặc nhiều hơn để kích thích hydrogen sulfide trong nước ở lỗ rỗng đất trầm tích kết tủa thành sulfide sắt

. Dùng natri nitrat cho nước có thể giúp duy trì điều kiện có thêm oxy tại bề mặt phân giới giữa nước và đất, làm giảm cơ hội hydrogen sulfide khuếch tán vào trong nước.

Chế phẩm sinh học (men vi sinh,men tiêu hóa) thường được sử dụng trong ao với niềm tin sẽ làm giảm nguy cơ độc tính của hydrogen sulfide.

Vi khuẩn oxy hóa lưu huỳnh có sẵn trong ao nuôi và không biết chắc là các xử lý bằng men vi sinh (probiotic) có hiệu quả để loại bỏ hydrogen sulfide. Zeolite đôi khi được cho là hấp thụ hydrogen sulfide, nhưng tỷ lệ xử lý cần thiết nhằm có hiệu quả sẽ là quá nhiều để có giá cả phải chăng. tag: máy thổi khí ương tôm

Hình 1. Ảnh hưởng của pH trên tỷ lệ tương quan của H2S, HS- và S2- 

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/hydrogen-sulfide-doc-nhung-co-the-quan-ly-duoc-36707.html

Chế phẩm sinh học, tác nhân ức chế hoạt động của vi rút trong nuôi tôm

Tuy nhiên, trong vài thập kỷ qua, dịch bệnh xảy ra trên tôm ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các nước châu Á đã gây ra tổn thất nặng nền về kinh tế và hạn chế sự phát triển của nghề nuôi tôm. tag: máy thổi khí at

Kháng sinh đã được sử dụng trong điều trị bệnh cho tôm, song việc lạm dụng thuốc kháng sinh đã gây ra những ảnh hưởng tiêu cực.

Hiện nay, chế phẩm sinh học (men tiêu hóa, men vi sinh) được lựa chọn như là giải pháp thay thế tối ưu cho việc dùng thuốc kháng sinh. Chế phẩm sinh học giúp tăng cường hệ miễn dịch tự nhiên, do vậy tăng sức đề kháng ở tôm.

Ngoài việc là các vi khuẩn có lợi, chế phẩm sinh học ức chế các hoạt động của vi rút. Do vậy, việc ứng dụng chế phẩm sinh học (men tiêu hóamen vi sinh) trong phòng và trị bệnh trên tôm là phương pháp mới và có hiệu quả.

Chế phẩm sinh học (men tiêu hóa) trong nuôi tôm

Theo truyền thống, chế phẩm sinh học được định nghĩa là “các vi sinh vật sống mà khi được bổ sung vào thức ăn sẽ giúp lấy lại sự cân bằng trong hệ tiêu hóa của vật chủ.”

Trong nuôi trồng thủy sản, việc sử dụng chế phẩm sinh học cần cân nhắc một vài yếu tố vì hệ vi sinh vật trong bộ máy của vật chủ không tồn tại độc lập.

Nó chịu ảnh hưởng của môi trường và vật chủ.

Do vậy, thuật ngữ ‘chế phẩm sinh học’ trong nuôi trồng thủy sản được định nghĩa là ‘một vi sinh vật tác động có lợi lên vật chủ như thay đổi cộng đồng vi sinh vật xung quanh vật chủ, đảm bảo cải thiện việc tiêu hóa thức ăn và tăng cường giá trị dinh dưỡng, tăng khả năng kháng bệnh, và cải thiện môi trường xung quanh vật chủ.”

Khác với tôm và cá nước mặn, quần thể vi sinh vật của các loài nước ngọt chủ yếu là các loài vi sinh vật họ AeromonasPlesiomonas, các vi khuẩn kị khí như BacteroidesFusobacterium và Eubacterium, axit lắc tích sản xuất ra các vi khuẩn ở trong ruột của tôm, chủ yếu là họ Carnobacterium.

Tuy nhiên, trong nuôi trồng thủy sản, vi khuẩn Vibrio spp., Bacillus spp., axit lắc tích và vi tảo thường được tận dụng như là chế phẩm sinh học giúp tăng trưởng và nâng cao tỷ lệ sống của loài thủy sản nuôi, đồng thời giảm mầm bệnh.

Các dòng vi sinh vật này được công nhận là có hiệu quả hơn so với việc sử dụng thuốc kháng sinh và các hóa chấ

t. Gần đây, các vi khuẩn có lợi đã được chiết xuất từ nước biển, chất cặn, và bộ máy của các loài thủy sản nuôi có khả năng sản xuất ra các chất ức chế mầm bệnh.

Ứng dụng chế phẩm sinh học (men vi sinhmen tiêu hóa) trong nuôi tôm

Hoạt động của chế phẩm sinh học được điều chỉnh bởi một loạt các ảnh hưởng phụ thuộc vào bản thân dòng chế phẩm sinh học, liều lượng sử dụng, thời gian sử dụng, liều lượng sử dụng.

Một vài dòng chế phẩm sinh học đã chứng minh có hiệu quả bằng cách sản sinh ra thuốc kháng sinh như bacteriocin có thể ức chế các loại vi khuẩn hay vi rút khác.

Một số dòng chế phẩm sinh học khác ức chế việc di chuyển của vi khuẩn vào thành ruột, tăng cường chức năng bảo vệ bằng chất nhầy bằng cách tăng việc sản xuất các phân tử miễn dịch một cách tự nhiên, hay điều chỉnh phản ứng miễn dịch.

Một vài nghiên cứu đã chứng minh hiệu quả của các dòng chế phẩm sinh học ứng dụng trong nuôi tôm.

Chẳng hạn, chế phẩm sinh học dòng Bacillus S1, được chiết xuất từ ruột của tôm giống bố mẹ ở vịnh Thái Lan, đã chứng minh có hiệu quả.

Thử nghiệm được tiến hành đối với tôm PL30.

Một nhóm được nuôi bằng thức ăn có bổ sung chế phẩm sinh học (men tiêu hóa) và nhóm còn lại được nuôi bằng thức ăn thông thường. Sau 100 ngày có sự khác biệt lớn về mức độ tăng trưởng, tỷ lệ sống và hình dáng giữa hai nhóm.

Sau khi thử thách tôm với mầm bệnh, vi khuẩn Vibrio harveyi trong mười ngày, toàn bộ nhóm được nuôi thức ăn có bổ sung chế phẩm sinh học có tỷ lệ sống 100%, trong khi nhóm còn lại có tỷ lệ sống là 26%.

Việc lựa chọn các dòng chế phẩm sinh học nên được xem xét cẩn thật. Mức độ an toàn của việc sử dụng chế phẩm sinh học có thể được khẳng định qua kinh nghiệm. Các dòng chế phẩm sinh học không chỉ đóng vai trò là thức ăn mà còn đóng vai trò kiểm soát sinh học đối với bệnh tôm và là các hoạt chất tạo ra dinh dưỡng.

Do vậy, kiểm soát sinh học trong nuôi trồng thủy sản nảy sinh và các nghiên cứu liên tục phát triển. Nhìn chúng, vi khuẩn tồn tại dưới hai dạng chính: vi khuẩn có lợi và vi khuẩn mang mầm bệnh.

Các vi khuẩn có lợi đóng vai trò quan trọng trong việc tái sử dụng các chất dinh dưỡng và phân hủy các chất hữu cơ, nhờ đó, môi trường nuôi được trong sạch. Các vi khuẩn mang mầm bệnh là tác nhân làm giảm chất lượng nước và gây bệnh.

Việc sử dụng dòng chế phẩm Bacillus sp mang lại các hiệu quả như: sản xuất chất kháng sinh, bacteriocin, lysozyme, proteases và thay đổi nồng độ pH bằng cách sản sinh ra các axit hữu cơ. Ngoài ra, chế phẩm sinh học cũng tác động đến hệ miễn dịch của cá, tôm và các loài thủy sản khác.

Streptomyces đã được sử dụng như là chế phẩm sinh học (men vi sinh) trong nuôi thí nghiệm tôm sú. Các chỉ số về chất lượng nước tốt hơn nhiều so với nuôi trong bể chứa và chỉ số tăng trưởng được cải thiện rõ rệt. tag: máy thổi khí trại giống

Một vài sản phẩm chế phẩm sinh học khác như Super-biotic, Super Ps, Zymetin, và Mutagen đã được chứng minh có vai tròng quan trọng trong việc sản xuất tôm giống do các dòng chế phẩm sinh học này giúp cải thiện chất lượng nước trong suốt quá trình nuôi.

Tương tự, dòng chế phẩm sinh học Bacillus subtilis E20, được chiết xuất từ thức ăn của người, đã được áp dụng trong sản xuất giống tôm thẻ chân trắng Litopenaeus vannamei, giúp giảm đáng kể tỷ lệ chết.

Chế phẩm sinh học trong việc kích hoạt hệ thống miễn dịch của tôm

Tôm là loài thủy sản có hệ thống miễn dịch kém phát triển và chế phẩm sinh học đóng vai trò quan trọng trong việc cải thiện hệ thống miễn dịch ở tôm.

Khi được bổ sung vào thức ăn với liều lượng 1010 cfu/kg trong vào 168 giờ, chế phẩm sinh học dòng Lactobacillus plantarum đã giúp tăng cường hệ thống miễn dịch và tác động đến gen của tôm chân trắng (Litopenaeus vannamei), tác động đến cả hệ miễn ở tế bào và ở dịch trong tôm và giúp tăng cường hoạt động của phenoloxidase (PO), prophenoloxidase (ProPO).

Dòng chế phẩm Pediococcus acidilactici cũng được chứng minh có hiệu quả trong việc chống ô xi hóa và thừa ô xi trong tế bào ở tôm chân trắng khi được thử nghiệm với vi khuẩn Vibrio nigripulchritudo.

Một vài dòng vi khuẩn Vibrio spp cũng được coi là chế phẩm sinh học tiềm năng trong nuôi tôm chân trắng.

Một số dòng được thử nghiệm như V. alginolyticus (NCIMB 1339) và V. gazogenes đã chứng minh có hiệu quả trong việc điều trị bệnh do vi khuẩn Vibrio gây ra.

Khi tôm non được cho ăn thức ăn có bổ sung ki-tin và V. gazogenes, thì số lượng khuẩn Vibrio giảm đáng kể trong ruột tôm.

Như vậy, Vibrio và hỗn hợp ki-tin đã làm thay đổi đáng kể số lượng hồng cầu, phản ảnh hệ miễn dịch của tôm được tăng cường.

Chế phẩm sinh học trong điều trị bệnh trên tôm

Chế phẩm sinh học có khả năng tăng cường hệ miễn dịch trong tôm và cá. Đối với việc phòng bệnh, việc tăng cường khả năng kháng bệnh và phát triển khả năng miễn dịch là lựa chọn tốt nhất trong việc phòng ngừa và điều trị bệnh.

Hệ miễn dịch trên tôm

Cá và tôm rất khác nhau về khả năng miễn dịch.

Cơ chế bảo vệ của tôm yếu và không có khả năng sản xuất ra globulin miễn dịch.

Loài tôm hoàn toàn dựa vào hệ miễn dịch bẩm sinh, bao gồm dịch và tế bào hoạt động phối hợp với nhau để phát hiện và loại trừ các chất hữu cơ bên ngoài nguy hiểm cho vật chủ.

Phản ứng miễn dịch ức chế vi rút ở tôm

Phản ứng miễn dịch ở tôm được nhận biết qua thụ thể nhận dạng mầm bệnh (PRRs).

Khi một vi rút vào trong cơ thể tôm, các tế bào bị nhiễm vi rút chứa các thành phần vi rút như gen DNA hay RNA và các thành phần này được cảm nhận bởi PRRs.

PRRs gây ra các phản ứng chống vi rút thích hợp và hiệu quả như sản sinh ra các xytokin khác nhau kích thích các phản ứng miễn dịch phù hợp.

Các phản ứng miễn dịch này bao gồm nhiều protein và gen chống vi rút, các chất kích thích miễn dịch hỗ trợ các phản ứng miễn dịch chống vi rút.

Hoạt động ức chế vi rút của chế phẩm sinh học

Hoạt động ức chế vi rút của chế phẩm sinh học được nghiên cứu bằng phương pháp plaque. Theo phương pháp này, chế phẩm sinh học và vi rút được trộn lẫn với số lượng bằng nhau, sau đó được cấy vào tế bào và hoạt động chống vi rút được theo dõi qua tỷ lệ giảm.

Một mô hình nuôi tế bào eukaryotic được đề xuất để nghiên cứu hoạt động ức chế vi rút của chế phẩm sinh học.

Phương pháp này dựa trên cơ chế hoạt động của chế phẩm sinh học. Chế phẩm sinh học sẽ loài trừ các mầm bệnh bằng cách cạnh tranh vị trí bám và kích thích cơ chế miễn dịch của vật chủ. Các nghiên cứu chống vi rút trong mô hình nuôi tế bào bao gồm:

Thử nghiệm các lớp đơn bào với vi khuẩn:

Trước tiên, các lớp đơn bào được ủ với chế phẩm sinh học và các vi khuẩn tự do bị đẩy ra. Sau đó, các lớp đơn bào này được thử nghiệm trực tiếp với vi rút và được ủ. Tế bào nào sống sót được coi là có khả năng ức chế vi rút.

Hiệu quả kháng vi rút của bề mặt vi khuẩn: Sau khi ủ, chế phẩm sinh học được tập hợp lại và bổ sung vào các lớp đơn bào và được thử nghiệm với vi rút. CPE được xác định sau khi ủ để xác định hoạt động ức chế vi rút.

Để áp dụng phương pháp này, phương pháp nuôi là rất quan trọng, đồng thời các yếu tố sinh, lý hóa của dòng chế phẩm sinh học (men tiêu hóa, men vi sinh) và loài vi rút được dùng để thử nghiệm cũng cần được xem xét cẩn thận.

Nhìn chung, vi rút trong phòng thí nghiệm được thử nghiệm với các lớp đơn bào phù hợp, và mức độ tăng trưởng của vi rút được xác nhận qua các nghiên cứu CPE.

Chẳng hạn, vi rút Taura được nuôi trong huyết bào của tôm chân trắng.

Mức tăng trưởng của vi rút được khẳng định qua quá trình nghiên cứu CPE trong huyết bào của tôm trong thời gian 6 giờ, 12 giờ và 48 giờ.

Theo cách tương tự, chế phẩm sinh học cũng có thể được bổ sung vào các lớp đơn bào này và CPE có thể được nghiên cứu cho hoạt động chống vi rút của chế phẩm sinh học.

Kết luận và triển vọng

Vấn đề dịch bệnh và môi trường trong nuôi tôm đã gây ra mối lo về sự phát triển bền vững của nghề nuôi tôm.

Các giống tôm sạch bệnh được chứng nhận và ao nuôi đủ điều kiện được coi là hai bước quan trọng nhất trong việc ngăn ngừa dịch bệnh.

Một vài biện pháp đã được áp dụng trong quản lý sức khỏe tôm để ngăn ngừa dịch bệnh bao gồm lựa chọn tôm giống, giống bố mẹ sạch bệnh, hệ thống nuôi khép kín, hệ thống tuần hoàn, áp dụng chế phẩm sinh học và một số hình thức nuôi tôm an toàn sinh học.

Thực tế đã cho thấy, việc sử dụng các sản phẩm chế phẩm sinh học và vitamin rất hiệu quả trong việc quản lý sức khỏe tôm và giảm bệnh dịch bằng cách củng cố cơ chế bảo vệ tự nhiên của đàn giống.

Dịch bệnh trong nuôi tôm là một vấn đề nghiêm trọng do việc lạm dụng và sử dụng sai thuốc kháng sinh đối trong việc phòng chống các bệnh do vi khuẩn gây ra như Vibrio.

Việc áp dụng chế phẩm sinh học kháng vi rút trong nuôi tôm là một giải pháp mới và an toàn. Tuy nhiên, chế phẩm sinh học đã được chứng minh có hiệu quả từ lúc bắt đầu nuôi hơn là sau khi có dịch bệnh. tag: máy thổi khí ương tôm

Do vậy, cách tốt nhất là bổ sung chế phẩm sinh học (men tiêu hóa) vào thức ăn hàng ngày của tôm để phòng ngừa việc nhiễm các loại vi khuẩn khác nhau và giúp tăng cường sức khỏe loài nuôi, nhờ vậy giúp tăng sản lượng nuôi.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/che-pham-sinh-hoc-tac-nhan-uc-che-hoat-dong-cua-vi-rut-trong-nuoi-tom-36708.html

Quản lý môi trường ao nuôi và sức khỏe tôm giai đoạn chuyển mùaQuản lý môi trường ao nuôi và sức khỏe tôm giai đoạn chuyển mùa

Bên cạnh đó, sau những cơn mưa thường xuất hiện nắng nóng gay gắt làm tôm giảm sức đề kháng từ đó làm tăng nguy cơ bùng phát mầm bệnh gây thiệt hại cho tôm nuôi. tag: máy thổi khí at

Quản lý môi trường ao nuôi và sức khỏe tôm giai đoạn chuyển mùa

Để hạn chế những tác động xấu do biến động thời tiết giai đoạn đầu mùa mưa, bà con nuôi tôm cần áp dụng các biện pháp sau đây để ổn định môi trường ao nuôi và tăng sức đề kháng cho tôm:

– Quản lý pH:

pH là yếu tố dễ biến động nhất sau những cơn mưa lớn, sự biến động đột ngột của pH có thể làm tôm giảm sức đề kháng.

Vì vậy, bà con nên kiểm tra pH cứ 2 giờ một lần trong lúc trời mưa và ngay sau khi mưa để điều chỉnh kịp thời. Duy trì pH ở mức thích hợp từ 7,5 – 8,5 và dao động giữa sáng và chiều không quá 0,5 đơn vị.

Nếu pH thấp, bà con sử dụng vôi nông nghiệp CaCO3 (bà con thường gọi là vôi canxi) liều lượng từ 10 – 20 kg/1000m3 nước ao tùy giá trị pH đo được.

Ngoài ra, để hạn chế phèn trên bờ ao rửa xuống ao khi mưa làm giảm pH và đục nước, bà con nên sử dụng vôi đá sống CaO rải đều trên bờ ao. Vôi sẽ giúp trung hòa acid tránh giảm pH đột ngột và giúp nước ao không bị đục sau khi mưa.

– Quản lý độ kiềm:

Mùa mưa là thời điểm độ kiềm trong ao tụt giảm làm ảnh hưởng đến quá trình lột xác của tôm, làm tôm chậm lớn, giảm tỷ lệ sống hay thường gặp hiện tượng tôm bị mềm vỏ kéo dài do độ kiềm dưới mức thích hợp đặc biệt đối với vùng nuôi có độ mặn thấp hay nuôi tôm trong ruộng lúa.

Độ kiềm thích hợp cho tôm sú từ 80 – 140 mg/l và 120 -150 mg/l đối với tôm thẻ. Nếu độ kiềm thấp có thể sử dụng vôi Dolomite liều lượng 20 – 30 kg/1000m3 hoặc sử dụng vôi canxi nếu pH thấp.

– Quản lý mực nước:

Đối với những ao có mực nước thấp chất lượng nước sẽ biến động lớn sau những cơn mưa hoặc khi trời nắng nóng gay gắt.

Vì vậy, cần duy trì mực nước tối thiểu là 1,3m đối với ao nuôi tôm sú và 1,5m đối với ao nuôi tôm thẻ.

Ngoài ra, biện pháp tăng cường quạt nước trong khi mưa lớn hay khi trời nắng gắt sẽ giúp xáo trộn nước tránh hiện tượng phân tầng trong ao từ đó hạn chế những tác động xấu cho tôm nuôi.

– Kiểm soát tảo:

Đối với những ao nuôi 2,5 tháng trở lên, sau khi trời mưa liên tục vài ngày, mật độ tảo thường tăng cao.

Nguyên nhân chủ yếu thường là cho ăn thừa trong những ngày mưa.

Một trong những biện pháp kiểm soát hữu hiệu lượng chất thải cũng như mật độ tảo trong ao là giảm khoảng 20 – 30% lượng thức ăn khi trời mưa bởi vì nhiệt độ thấp tôm sẽ giảm bắt mồi. tag: máy thổi khí trại giống

Hơn nữa, để tránh thất thoát thức ăn trong những ngày trời âm u thì nên bắt đầu cho tôm ăn trễ hơn khi mặt trời mọc, lúc đó tảo bắt đầu quang hợp đảm bảo đủ oxy hòa tan để tôm bắt mồi và tiêu hóa thức ăn.

Ngoài ra, bà con có thể sử dụng mật đường riêng lẻ hoặc kết hợp với men vi sinh với liều lượng 2 – 3 kg/100m3 định kỳ 5 – 7 ngày kết hợp tăng cường chạy quạt cung cấp oxy cũng là giải pháp kích thích vi khuẩn có lợi trong ao phát triển tăng cường phân hủy các chất hữu cơ, hạn chế tảo phát triển quá mức.

– Hạn chế mầm bệnh trong ao:

Bằng cách diệt khuẩn nước ao, trong những trường hợp cần thiết như màu sắc tôm thay đổi xấu, tôm đóng rong, đóng nhớt, bị phồng đuôi, đứt đuôi, đứt râu.

Đặc biệt sau đợt mưa nhiều ngày vi khuẩn có hại gây bệnh thường bùng phát theo sự tích tụ hữu cơ trong ao.

Do đó, sau khi kết thúc đợt mưa chuyển sang thời tiết nắng cần diệt khuẩn để giảm mật độ vi khuẩn có hại, giảm bớt mầm bệnh và cấy vi sinh lại sau 2 ngày để tăng cường vi khuẩn có lợi cho ao.

Một số chất diệt khuẩn có thể ảnh hưởng đến tảo và sức khỏe tôm vì vậy, bà con cần lưu ý chọn loại diệt khuẩn tương đối an toàn  và phải kiểm tra sức khỏe tôm trước khi sử dụng.

– Quản lý sức khỏe tôm:

Ngoài việc quan sát phản ứng, màu sắc, đường ruột, gan tụy và phân tôm hàng ngày thông qua kiểm tra sàng ăn, bà con cần chài tôm định kỳ 5 – 7 ngày hoặc sau khi ao nuôi có những diễn biến xấu như chất lượng nước xấu hay mưa kéo dài để kiểm tra sức khỏe tôm nhằm có biện pháp xử lý kịp thời khi phát hiện những dấu hiệu bất thường như tôm búng yếu, phân lỏng, đường ruột đứt khút, gan tụy mờ nhạt,…

Bên cạnh đó, bà con cần tăng cường sức đề kháng cho tôm trong giai đoạn thời tiết bất lợi bằng cách tăng cường (tức là trộn vào thức ăn với liều lượng cao hơn thông thường) các chất bổ sung như Vitamin C, khoáng, vi sinh đường ruột (men tiêu hóa), chất bổ gan, chất tăng đề kháng beta-glucan để tăng sức chống chịu cho tôm nuôi.

Trên đây là một số giải pháp kỹ thuật nhằm quản lý môi trường ao nuôi tôm trong điều kiện thời tiết chuyển mùa vào mùa mưa.

Hy vọng với những biện pháp vừa nêu trên kết hợp với kinh nghiệm và quan sát tại ao nuôi bà con nuôi tôm sẽ có những cách xử lý kịp thời nhằm hạn chế tối đa ảnh hưởng xấu đến tôm nuôi và sẽ có vụ mùa thành công. tag: máy thổi khí ương tôm

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/quan-ly-moi-truong-ao-nuoi-va-suc-khoe-tom-giai-doan-chuyen-mua-36717.html