Monthly Archives: October 2018

Kỹ thuật nuôi tôm chân trắng nguyên chủng

Theo đà phát triển của nghề nuôi tôm chân trắng, diện tích, sản lượng, hiệu quả nuôi tăng khá nhanh, nhưng đã có hiện tượng chất lượng tôm giống thoái hoá nghiêm trọng, tốc độ lớn của tôm giảm nhiều, đặc biệt là tôm lớn không đều trong đầm tôm nuôi. tag: máy thổi khí ương tôm 

Ðể giải quyết tình trạng này, đưa nghề nuôi tôm chân trắng phát triển theo hướng lành mạnh, nhanh chóng và bền vững. Năm 2001 Trung Quốc đã nhập nội giống tôm he chân trắng nguyên chủng về nuôi và cho kết quả tương đối khá.

I. Kỹ thuật nuôi vỗ tôm chân trắng bố mẹ

1. Tháng 2-4/2001: nhập 4 đợt tổng số 500 đôi tôm nguyên chủng sạch bệnh đã được khử trùng từ Hawai (Mỹ) về nuôi ở 2 bể xây hình chữ nhật. Diện tích mỗi bể 50m2, mức nước 70cm, nhốt tôm đực, tôm cái riêng.

Nguồn nước lấy từ nước giếng cát mặn lắng lọc sạch, độ mặn 28-32 pH 7,8 – 8,8 và đưa vào bể muối. Ðược ít ngày tôm hồi phục sức khoẻ và ăn mồi bình thường thì có thể dùng kẹp nóng cắt cuống mắt đơn của tôm mẹ.

2. Thức ăn và cách cho ăn

Chủ yếu là rươi sống, thịt hầu tươi, thịt bạch tuộc tươi. Chỉ khi thiếu thức ăn tươi sống mới dùng thêm thức ăn công nghiệp. Ngày cho ăn 4 lần trở lên theo nguyên tắc lượng ít nhiều lần để tôm ăn no đủ sức phát triển buồng trứng chóng thành thục. Lượng cho ăn mỗi ngày từ 15 – 18% thể trọng tôm trong bể.

3. Hút nước và thay nước

Ðể đảm bảo môi trường luôn trong sạch, đủ ôxy, tôm ăn nhiều, phát triển tốt và không sinh bệnh. Ðây là việc làm hàng ngày, lượng nước thay 80% hoặc hơn.

4. Khống chế nhiệt độ ổn định

Ðầu vụ nuôi nhiệt độ ngoài trời còn thấp nên cần nâng nhiệt nước tới mức ổn định 29oC. Chú ý nhiệt độ nước ở bể chứa nước (để thay nước cho bể nuôi) cũng phải khống chế ngang với ở bể nuôi rồi mới đưa vào bể.

5. Chọn tôm cái thành thục

Tôm cái sau khi cắt cuống mắt, nuôi vỗ tích cực khoảng 10 ngày trở lên thì lần lượt thành thục.

Hằng ngày vào khoảng 10 giờ sáng, sau khi hút cặn thay nước xong, chọn những con cái đã thành thục thả vào bể tôm đực để cho chúng tự giao phối, khoảng 4 giờ chiều thắp đèn chiếu sáng bể tôm để kích thích nâng cao tỉ lệ tôm giao vĩ.

6. Bắt tôm cái sau khi giao phối

Mỗi buổi tối từ 8 đến 11 giờ bắt tôm cái đã giao phối đưa vào bể tôm đẻ. Mật độ : 4 – 5 con/m2 bể.

Chú ý : – Khi tôm đang đẻ sục khí nhỏ để tăng tỉ lệ nở, tránh sục mạnh làm vỡ trứng.

– Kịp thời chuyển tôm cái sang bể khác, khi thấy chúng đã đẻ xong.

– Từ 30 phút đến 1 giờ khuấy đảo trứng nhẹ 1 lần để trứng khỏi bị đọng ở đáy bể thiếu ôxy sẽ chết nhiều.

7. Kết quả

Từ 10/3 có một số tôm cái thành thục đẻ trứng, đến 5/8 tất cả 425 con tôm cái đẻ trứng, tỉ lệ đẻ đạt 85%, tỷ lệ giao vĩ đạt 75%, tỷ lệ nở 82,03%. Tổng số ấu trùng Nauplius thu được là 586,71 triệu con.

Trong khi lưu giữ giống nguyên chủng cần chú ý tạo điều kiện cho tôm thích nghi dần với môi trường ở địa phương, nếu không tôm dễ bị bệnh. tag: dinh dưỡng cho tôm

II. Ương ấu trùng tôm

Bể ương tôm giống : 100m2, cao 1,4m.

Nguồn nước cũng lấy từ giếng cát mặn đã lắng lọc sạch, độ mặn 28 – 32; pH 8,0 – 8,3.

Ðưa ấu trùng Nauplius vào ương với mật độ 2 triệu con/bể, khống chế nhiệt độ nước ở bể ương 30oC.

Ngày cho ăn 6 lần. mấy ngày đầu cho ăn mảnh tôm (bột tôm), BP (thức ăn hạt nhỏ) và bột tảo. Sang giai đoạn Zoea cho ăn 1 lượng nhất định thức ăn sinh vật (cốt điền tảo). Từ Mysis tới cuối giai đoạn tôm bột cho ăn chủ yếu là bột tôm kết hợp với một ít artemia. Từ P3 trở đi cách 2 ngày thay 1 ít nước biển sạch mới vào bể ương 1 lần, lượng nước thay tăng dần do ấu trùng ngày càng lớn

Trong giai đoạn M1 và M2, đưa thuốc kháng sinh vào bể đề phòng bệnh là rất cần thiết (dùng Furazolidon và oxytetracycline).

Kết quả ương từ ngày 5/6 đến 8/7. Có 2 ao ương, mỗi ao thả 2 triệu Nauplius. Ao thứ nhất thu được 95 vạn tôm bột Postlarvae (P) tỷ lệ sống 47,5%. Ao thứ hai thu được 76 vạn tôm bột, tỷ lệ sống 38%.

Tỷ lệ tôm bột sống thấp ngoài nguyên nhân và chất nước còn do chưa cung cấp đủ thức ăn phù hợp trong giai đoạn M1 và M2 là giác mao tảo và kim tảo, nên phải cho ăn loại tảo kém chất lượng hơn là cốt điều tảo.

III. Nuôi tôm thịt

Diện tích ao: Ao số 1 : 2.000m2 – Ao số 2 : 9.000m2

Các ao đều lắp máy quạt nước. Nguồn nước là nước biển tự nhiên, độ mặn 12 – 20, pH = 7,8 – 8,2. Ao được tẩy dọn sạch, phơi nắng, khử trùng trước khi thả giống, cho nước vào sâu 1,2m và bón phân gây mầu để tạo sẵn thức ăn tự nhiên ban đầu.

Khi độ trong nước ao 40 – 50cm thì thả tôm bột vào ao.

Ao số 1 thả 30 vạn con.

Ao số 2 thả 33 vạn con.

Trong 5 ngày đầu, mỗi ngày cho ăn 1 lần, từ ngày thứ 6 đến thứ 10, mỗi ngày cho ăn 2 lần, sau đó ngày cho ăn 4 lần. Từ tháng thứ 2 trở đi mỗi ngày cho thêm 5 – 10cm nước ngọt. Suốt quá trình nuôi không cần cho thêm nước mặn. Cuối giai đoạn nuôi tôm thịt rắc vôi bột 2 – 3 lần/tháng, để cải thiện chất nước và chất đáy. Ngoài ra nên định kỳ bón vi khuẩn quang hợp.

Kết quả:

Ao số 1: Ngày 4/7 thả 30 vạn tôm bột, ngày 4/10 thu hoạch (sau 92 ngày nuôi), sản lượng tôm thịt 3.413 kg, qui ra năng suất 17 tấn/ha, con lớn nhất dài 15,6cm, nặng 18,2g, cỡ trung bình dài 12,2cm nặng 14,8g. Tỉ lệ sống 76,87% lượng thức ăn sử dụng 3.800 kg, hệ số thức ăn 1,11.

Ao số 2: Ngày 20/4 thả 10 vạn tôm bột, ngày 23/4 thả tiếp 23 vạn con. Ngày 15/7 thu hoạch. Qua 85 – 93 ngày nuôi tôm thịt đạt 3.675 kg, năng suất bình quân 282,69 kg/660m2. Con lớn nhất dài 11,8cm nặng 21g; bình quân dài 10,3cm, nặng 14,2g, tỷ lệ sống 78,43%, lượng thức ăn sử dụng 3.400 kg, hệ số thức ăn 0,93.

Nhìn chung sử dụng tôm giống sản xuất từ tôm bố mẹ nguyên chủng mới nhập để nuôi tôm thịt tốt hơn hẳn tôm giống từ các nguồn khác ở địa phương. ưu thế là : tôm thịt đều cỡ hơn, thân hình bóng đẹp, thịt chắc hơn, tốc độ lớn nhanh hơn. Tuy vậy, tôm bột chưa quen thích nghi điều kiện môi trường ở địa phương nên sau khi đưa vào ao nuôi tôm thịt mới 1 tuần đã thấy một số con bị bệnh. Vì vậy trong khi lưu giữ giống nguyên chủng sau này cần chú ý tới khâu tạo điều kiện cho tôm thích nghi dần với môi trường ở địa phương. tag: ky thuat nuoi tom su

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/ky-thuat-nuoi-tom-chan-trang-nguyen-chung-2596.html

Ương nuôi tôm để quản lý EMS

Mật độ thả cao và không thay nước được áp dụng trong các hệ thống này đòi hỏi công nghệ cao hơn, cơ sở hạ tầng tốt hơn, tăng cường an toàn sinh học, kiểm soát và thiết bị dụng cụ hỗ trợ. tag: máy thổi khí ương tôm

Cần thiết phải có các hệ thống lọc, hệ thống thông khí hiệu suất cao, chất lượng nước tốt, sử dụng các loài vi sinh vật, siphon hút bùn, kiểm soát nhiệt độ, kết cấu nhà kính và thức ăn tốt hơn – tất cả với mục tiêu tạo ra một môi trường ổn định cho con giống khỏe mạnh.

Người quản lý các trại ương phải có kinh nghiệm sản xuất giống để có thể duy trì mức độ kiểm soát cần thiết.

Việc sử dụng các chế phẩm vi sinh (probiotic), vi sinh vật có lợi cho sức khỏe là một thành phần quan trọng trong các hệ thống này. Cách thức dùng các loại chế phẩm vi sinh khác nhau phải được điều chỉnh theo sinh khối, chất lượng nước và sức khỏe của tôm giống.

Thức ăn sử dụng trong các hệ thống này phải đạt chất lượng thức ăn cho tôm giống. Việc cố sử dụng thức ăn cho nuôi tăng trưởng ảnh hưởng đến chất lượng nước và về sau phát sinh các vấn đề vi khuẩn học có thể dẫn đến năng suất sản lượng kém và con giống yếu.

Các nhà quản lý các hệ thống này phải có thiết bị và chuyên môn để chuyển tôm giống từ các trại ương sang các ao nuôi tăng trưởng một cách thích hợp. tag: dinh dưỡng cho tôm

Tôm giống phải khỏe mạnh trước khi chuyển sang ao nuôi, nếu không có thể mất hết kết quả thu được ở trại ương

. Mới đầu việc sang chuyển ao được thực hiện ở một khoảng cách ngắn.

Ngày nay việc sử dụng máy bơm được thiết kế đặc biệt giúp giảm căng thẳng và tỉ lệ chết, việc sang chuyển có thể thực hiện được ở khoảng cách lên đến hai cây số.

Xu hướng hiện nay là áp dụng mật độ thấp hơn trong các trại ương để sản xuất cỡ giống thả lớn hơn.

Ở Mexico, tác động của hội chứng tôm chết sớm / hoại tử gan tụy cấp tính (EMS/AHPN) rất nghiêm trọng. Sản xuất giảm khoảng 50% trong năm 2013.

Theo một nhà cung cấp hàng đầu về thiết bị chuyên dùng và thức ăn cho nuôi trồng thủy sản – Proaqua Mexico đưa tin, không có báo cáo nào về dịch bệnh EMS ở các trại ương, tuy nhiên, tỷ lệ chết đã xảy ra sau khi chuyển tôm sang thả ở các ao nuôi tăng trưởng.

Một số trang trại đã thả tôm ương ở mức trung bình 1,5 con/lít trong 55 ngày và đạt cỡ 4.5 gram với tỉ lệ sống là 80%.

Khi nuôi trong ao nuôi tăng trưởng với mật độ trung bình 6,5 con/m2 trong vòng 30 ngày thì tôm đạt cỡ 16 – 18 gram. Tôm thu hoạch có hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) trung bình là 0,6 và tỉ lệ sống trung bình là 85%.

Các trang trại đã thực hiện phương pháp này để có được bốn vụ một năm, năng suất hơn 3.000 kg/ha trong suốt năm 2013 với số ngày nuôi ít hơn và hệ số FCR thấp hơn.

Nhiều nỗ lực để chuyển giao khái niệm ương nuôi này sang các quốc gia ở Đông Nam Á đã đem lại các kết quả khác nhau. Người nuôi đã cố gắng xây dựng ao ương ngay tại các trang trại nuôi, nhưng không đảm bảo an toàn sinh học, thiếu các thiết bị công cụ và công nghệ nên đã gặp phải các vấn đề về kích cỡ khác nhau, tỉ lệ sống và việc sang chuyển.

Nhiều ý tưởng để lựa chọn đã được đưa ra ở Đông Nam Á.

Thả giống trong các lồng cách khỏi đáy ao trong vòng 30 ngày đã tránh bùng phát EMS. Ngoài ra, tách riêng bằng lưới để nuôi ương tôm nhỏ trong phạm vi 20 – 30 % diện tích ao và sau 20 đến 30 ngày thì thả tôm ra đã được báo cáo là có ích lợi.

Một kinh nghiệm thành công với việc thực hiện các trại ương đã được báo cáo ở Malaysia với năng suất sản lượng tốt, chuyển thành công tôm giống sang ao nuôi tăng trưởng và thu hoạch thành công trong vụ nuôi ngắn hơn. tag: ky thuat nuoi tom su

Vẫn còn khả năng để cải thiện năng suất bằng cách điều chỉnh chế độ cho ăn, cách thức / quy trình xử lý vi sinh và các điều kiện nhiệt độ để đạt được trọng lượng tốt hơn trong các trại ương.

Nguồn: https://www.2lua.vn/article/uong-nuoi-tom-de-quan-ly-ems-36711.html